Monday, May 23, 2011

Thu 21 triệu USD/năm nhờ bán complet giá rẻ

Thông điệp "chất lượng và phù hợp với thị hiếu từng khách hàng, giao hàng tiện lợi và có giảm giá cho sản phẩm" đã thu hút được đông đảo khách hàng. Trong vòng 6 năm qua, Astor & Black đều thu được 21 triệu USD doanh thu hàng năm.
"Sao" cũng chuộng
Malcolm Jenkins - hậu vệ cánh của đội bóng New Orleans Saints, có thừa khả năng tài chính để có thể mặc bất kỳ thứ gì anh muốn. Nhưng thay vì diện đồ hiệu Armani từ đầu đến chân, anh lại thích mua com-lê tại Astor & Black- một công ty bán quần áo đặt trước có trụ sở ở Columbus, Ohio. Mỗi năm ba lần ông chủ 27 tuổi của Astor & Black - David Schottenstein- lại bay tới New Orleans và đến nhà Jenkins lấy số đo của anh.
Jenkins  nói: "Tôi thích mặc đồ thể hiện bản sắc riêng của bản thân, và David  biết tôi thích gì. Việc này đơn giản hơn nhiều so với việc đến một cửa hàng mới và gặp một nhân viên bán hàng mới để được tư vấn chọn đồ". Tủ áo của Jenkins giờ đây đã có 30 bộ đồ Astor & Black đủ các thể loại, từ com-lê, áo khoác thể thao đến  áo len.
Phương châm của Schottenstein là: sản xuất những bộ com-lê chất lượng và phù hợp với thị hiếu từng khách hàng, giao hàng tiện lợi và có giảm giá cho sản phẩm.
Phương châm của Schottenstein là: sản xuất những bộ com-lê chất lượng và phù hợp với thị hiếu từng khách hàng, giao hàng tiện lợi và có giảm giá cho sản phẩm. Thông điệp này đã thu hút được đông đảo khách hàng, không chỉ với những tay chuyên nghiệp trẻ với ngân sách chi dùng cho quần áo hạn hẹp. Trong vòng 6 năm qua, Astor & Black đểu thu được 21 triệu USD doanh thu hàng năm.
Giá cả hấp dẫn
Trung bình một bộ com-lê của Astor & Black có giá 895 đôla- chỉ bằng 1/4 mức giá một bộ com-lê được may chuẩn theo số đo của từng khách hàng ở Zegna. Những bộ com-lê này có chất liệu vải và màu sắc khác nhau, và sau 4-6 tuần dưới bàn tay của các thợ may đến từ các quốc gia  như Trung Quốc,  Hong Kong và Mỹ, chúng sẽ có mặt trên thị trường.
Chiến thuật giảm giá của Schottenstein là học hỏi từ người ông Leon- anh cả trong số 4 anh em sáng lập ra Schottenstein Stores. David đã chuyển tới học tại một trường nội trú ở Venice, Ý sau khi Học viện Columbus Torah "yêu cầu thôi học" do phạm phải những vấn đề về kỷ luật. Ở cái tuổi 16 tuổi, David đã có kế hoạch về một hãng thời trang riêng của mình mà chưa hề có bất kỳ thứ gì trong tay. Anh bắt đầu kinh doanh năm 20 tuổi, với số vốn ban đầu là 75.000 đôla do bán xì gà và những ngày còn buôn bán ở trường trung học.
Schottenstein dựa vào một đội gồm 92 nhân viên bán quần áo nam, những người này thường lui tới nhà riêng, văn phòng và các câu lạc bộ ở 35 bang và 5 quốc gia để làm lấy số đo khách hàng. Tất cả đều làm không lương và được hưởng hoa hồng. Những lính mới trong năm đầu tiên thu về cho công ty từ 40.000- 75.000 đôla, thậm chí những người làm việc hiệu quả nhất còn kiếm được hơn 300.000 đôla. Năm ngoái, "lính mới của năm" thu được 500.000 đôla khi bán sản phẩm cho những người tham dự các cuộc họp của phòng thương mại và đoàn luật sư.
Không chờ khách hàng tự tìm đến
Schottenstein cho biết: "Những người làm việc trong môi trường bán lẻ không phù hợp với công việc này, bởi họ đã quá quen với việc khách hàng tìm đến với họ".
Năm ngoái Schottenstein và giám đốc công ty là Christian Boehm đã xây dựng một bài kiểm tra năng lực dài 25 trang dành cho các ứng viên triển vọng. Trong đó, ứng viên sẽ phải trả lời là đồng ý hay không đồng ý với những câu kiểu như "Rất khó để bạn tham gia một trò chơi chỉ để giải trí". Những người đạt điểm số cao nhất sẽ được mời đến "ĐH Astor & Black" ở Columbus trong 4 ngày để nghe Boehm và những quản lý khác giảng dạy về cách lấy số đo, dịch vụ khách hàng và phong cách thời trang.
Schottenstein hy vọng đến cuối năm 2012 công ty sẽ có khoảng 200 nhân viên bán hàng trên toàn thế giới, bao gồm cả anh. Anh nói: "Lẽ ra tôi có thể không cần phải tìm đến khách hàng để tự mình lấy số đo của họ. Nhưng tôi nghĩ rằng, nếu điều đó là cần thiết để giúp việc kinh doanh tiến triển thì không có lý do nào để tôi từ chối".

Ảnh hưởng của ngồi lâu tới sức khỏe con người

Ai cũng biết ngồi lâu là không tốt, nhưng bạn có biết rằng ngồi lâu sẽ làm tăng nguy cơ tử vong lên đến 40% không? Cho dù bạn có tập thể dục thường xuyên nhưng nếu ngồi lâu một chỗ trong thời gian dài cũng sẽ mang lại những hậu quả khôn lường. Bạn có thể mắc chứng bệnh béo phì, tim mạch và thậm chí tử vong chỉ vì ngồi lâu. Hãy xem qua tác hại của việc ngồi lâu trong hình minh họa dưới đây cũng như những lời khuyên dành cho người có công việc phải ngồi nhiều.




Copy by TinhTe.vn

Sunday, May 22, 2011

[Phật Giáo] Nhìn vợ, người yêu như nữ Phật

Bạn thân mến,
Một vị Phật xuất hiện trong cuộc đời bạn để giúp bạn hạnh phúc, nhưng không phải niềm hạnh phúc tạm thời vốn đầy điều kiện và bám chấp, ví dụ như tôi chỉ hạnh phúc nếu người ta yêu tôi, nếu không có người ta thì tôi không thể hạnh phúc.
Hạnh phúc chân thực thì không bắt buộc phải có một điều kiện nào. Một vị Phật có thể giúp cho bạn hạnh phúc không phải vì Ngài đem tới cho bạn một người bạn yêu thích, một đồ vật bạn mong muốn hay một sự thành công bạn ước ao…Hạnh phúc từ một vị Phật là khi Ngài giúp bạn nhận ra rằng bạn không thể hạnh phúc nếu còn tin rằng phải có một đối tượng nào đó mới làm mình hạnh phúc.
Nếu bạn đang có một đối tượng như vậy, thì nó cũng đang trong quá trình thay đổi và biến mất. Ví dụ trong tình yêu, người yêu bạn cũng đang già đi, luôn sẵn sàng bệnh tật và chết không biết lúc nào nếu một tai nạn xảy ra, đó là nỗi khổ chờ sẵn. Người bạn mong mỏi sẽ tới với mình thì còn chưa chắc tới, những người yêu đã từng làm bạn hạnh phúc thì đã ra đi, đó là nỗi khổ thiếu thốn. Ngay người yêu bây giờ cũng có những lúc không yêu bạn như bạn muốn, làm bạn giận dỗi, thất vọng… đó là nỗi khổ vì sở hữu. Khổ đau luôn chờ chực, vậy thì bạn còn trông đợi vào loại hạnh phúc nào?
Bạn chỉ có một cách duy nhất là hạnh phúc ngay bây giờ, ngay ở đây với những gì đang xuất hiện. Hạnh phúc này có mặt không phải vì bạn sở hữu được đối tượng làm bạn hạnh phúc, mà vì bạn không còn buộc phải có một đối tượng nào để trở nên hạnh phúc. Mọi việc đến và đi với bạn một cách tự nhiên, và bạn hạnh phúc với tất cả những gì đang đến và đang đi đó.
Có lẽ bạn đã đọc về điều này trong bài viết trước của Trongsuot, hoặc bạn đã đọc ở trong kinh sách, nghe các vị đạo sư giảng giải về tình yêu không bám chấp. Dù thấy nó là đúng, có lẽ bạn cũng đã thử và thấy thật là khó.
Một người bạn của Trongsuot gần đây quyết định lấy chồng và cô ấy cũng thấy như vậy, sao biết là không nên bám chấp mà giận dỗi vẫn nảy sinh khi người kia có gì đó không hợp ý mình, sao biết là không nên bám chấp mà ý nghĩ muốn từ bỏ mối quan hệ mạnh lên mỗi khi thấy về lâu dài người kia với mình có điều không hợp? Vấn đề là làm thế nào để yêu mà không bám chấp, có đúng vậy không?
Bạn thân mến, bạn không thể thay đổi nếu chỉ đọc hoặc nghe những lời giảng dù tuyệt vời đến mấy, hay nói cách khác, bạn không thể thay đổi được chỉ bằng sự hiểu biết và lý trí. Nếu hiểu biết làm bạn thay đổi được, có lẽ giờ đây bạn đã là một vị thánh từ lâu, vì sách vở đã nói rất nhiều  và bạn cũng đã đọc không ít. Các cảm xúc và ý nghĩ tiêu cực vẫn có thể nảy sinh và có khả năng khống chế bạn cho dù bạn hiểu biết đến mấy, bởi vì sự hiểu biết chỉ là các suy nghĩ, nó không thể mạnh mẽ bằng cảm xúc! Nếu bạn nghĩ rằng ngược lại thì cứ thử xem, khi bạn yêu hoặc đang trong cơn giận dữ và hành động theo cảm xúc, các hiểu biết của bạn ở đâu?!
Trong cuốn sách cổ Tây Tạng có chuyện kể rằng một nhà sư đã học 18 năm tại một tu viện, chiều chiều ông ngồi thiền dưới một gốc cây. Một hôm có một người hành khất đi qua và hỏi: “Ngài ngồi đây để làm gì?” Ông trả lời: “Ta ngồi để thiền định về lòng nhẫn nhục”. “Cái gì, Ngài cứ ngồi một mình thế này chả có ích cho ai, khác nào một cục phân”. Thế là nhà sư nổi giận và đứng dậy đánh ngay lão ăn mày! Bao nhiêu hiểu biết của ông về lòng nhẫn nhục trong giây phút ấy đã bay đi đâu hết.
Một câu chuyện khác, nhà thơ Tô Đông Pha nổi tiếng đời Đường cảm thấy mình tu hành đã thành công, nên viết một lá thư, sai thư đồng đem đến cho Thiền sư Phật Ấn ở chùa Kim Sơn ấn chứng. Trong thơ viết:
“Kính lạy đức Phật đà
Hào quang chiếu đại thiên
Tám gió không lay động
Đoan toạ trên toà sen”
Tám gió chỉ cho tám cảnh thường gặp trong cuộc sống, có thể ảnh hưởng đến tâm trạng của con người, cho nên hình dung nó là gió “Khen, chê, huỷ hoại, danh dự, tài lợi, buồn, khổ, vui”. Ý bài thơ này nói Tô Đông Pha đã tu hành đến độ tám gió không còn lay động được nữa.
Thiền sư Phật Ấn nhận bài thơ của Tô Đông Pha từ tay đứa thư đồng, xem một lúc, rồi cầm bút phê hai chữ, bảo thư đồng cầm về.
Tô Đông Pha cho rằng Thiền sư Phật Ấn nhất định sẽ tán thưởng cảnh giới tu hành tham thiền của mình, nên vội vàng mở ra xem lời phê của Thiền sư. Nhưng vừa xem đã thấy rõ ràng hai chữ “đánh rắm”, nên vô cùng tức giận, liền đi thuyền sang sông tìm Thiền sư để hỏi cho ra lẽ.
Lúc thuyền sắp đến chùa Kim Sơn, Thiền sư Phật Ấn đã ra đứng bên bờ sông đợi Tô Đông Pha, Tô Đông Pha vừa thấy Thiền sư Phật Ấn liền tức giận nói: “Thiền sư! Chúng ta từ quen biết trở thành bạn đạo, thơ của tôi, sự tu hành của tôi, ngài không khen cũng được đi, sao lại mắng người ta?”
Chỉ thấy Thiền sư Phật Ấn ra vẻ như không có gì nói: “Tôi mắng ông gì đâu?”
Tô Đông Pha liền đưa hai chữ “đánh rắm” phê trên bài thơ cho Thiền sư Phật Ấn xem.
Thiền sư Phật Ấn cười lớn đáp: “Ồ! Không phải ông nói “tám gió thổi không lay động sao?” tại sao ta mới đánh rắm mà đã thổi ông bay qua sông rồi vậy?”
Lập tức, Tô Đông Pha cảm thấy mình bị  mắc lừa Thiền sư, tự rất xấu hổ. Tu hành không phải chỉ hiểu biết suông mà còn phải làm chuyển hóa được cảm xúc, mới là công phu chân thật.
Một vị Phật có thể giảng cho bạn nhận ra rằng hạnh phúc chân thật thì không còn phụ thuộc vào đối tượng nào. Trước khi bạn thực hiện được điều này, Ngài sẽ hiện ra như vợ, như người yêu, những người mà bạn gắn bó nhất để giúp bạn học cho được bài học đó.
Nếu bạn chỉ đọc và nghe thôi mà không thực tập sâu sắc, hạnh phúc sẽ không đến với bạn. Những lời giảng là vô nghĩa nếu bạn thiếu đi cơ hội để thực hành. Và Trongsuot nói với bạn rằng, sự chuyển hóa xảy ra nhanh nhất là sự chuyển hóa các cảm xúc tiêu cực ngay khi nó xảy ra.
Những lời giảng chỉ thực sự có giá trị khi bạn chuyển hóa được cảm xúc của chính mình. Cái gọi là có bám chấp hay không thể hiện rõ rệt nhất trong việc cảm xúc điều khiển bạn thế nào khi những sự kiện xảy ra. Và để làm được điều đó, bạn cần các cảm xúc xuất hiện và làm việc với chúng, bạn cần điều kiện để các cảm xúc phát sinh!
Tromg cuộc đời thật hiếm khi có được một người bạn gây ra được cảm xúc như thiền sư Phật Ấn làm với  Tô Đông Pha, nhưng vợ hay người yêu bạn còn hơn cả Phật Ấn, đó là người sẽ giúp bạn nảy sinh ra các cảm xúc mạnh mẽ mỗi ngày. Đó chính là cơ hội để bạn nắm lấy và chuyển hóa ngay trong lúc đó!
Giống như khi một người xa lạ nhận xét không tốt về bạn, bạn có thể thấy bình thường. Nhưng người mà bạn tin yêu nhất nói một điều gì không tốt về bạn, bạn cảm thấy buồn bã, thất vọng hay giận dỗi. Một người ngoài khó có thể làm những điều đó nảy sinh, nhưng một người yêu lại có cái năng lực làm những cảm xúc mạnh mẽ đó dễ dàng nổi lên trong bạn. Và không chỉ một lần, mà do sự gần gũi nó có thể xảy ra đi xảy ra lại, nào là tức giận và bối rối, lo lắng và sợ hãi… Các cảm xúc xảy ra vừa như một lời nhắc nhở cho thấy bạn cần phải bạn học cách làm việc và chuyển hóa những cảm xúc này, vừa như một phương tiện cho bạn tập.
Khi nhìn người yêu như nữ Phật, tất cả những cảm xúc tiêu cực cho dù nó là thứ gì, tạm thời hay đã thành khuôn mẫu, nảy sinh trong quá trình quan hệ giữa hai người sẽ nhắc nhở bạn rằng Đức Phật đang giúp bạn thông qua việc biến thành người bạn yêu. Và thay vì để giận hờn hay bực bội khống chế, hãy nhìn các hành động như một lời dạy và chủ động chuyển hóa chính cái cảm xúc đó để học bài học nó đem tới cho bạn.
Người yêu đem tới cho bạn một cơ hội mà người bình thường không thể đem tới được, bằng việc này, họ chính là một vị Phật đối với bạn.
Và vì vậy, hãy nhìn vợ hay người yêu như nữ Phật, bắt đầu từ hôm nay, 8/3/2011.
Bài viết này xin dành tặng cho vợ – vị nữ Phật trong lòng Trongsuot
Copy blog : Trongsuot.com

Bánh iPhone, iPad bán chạy ở Trung Quốc


iphonecookie-(1).jpg

CTnews - Những chiếc bánh có hình dáng iPhone, iPad tại hiệu bánh CCSweets ở Bắc Kinh bán chạy đến nỗi nhiều hiệu bánh khác đã đánh cắp ý tưởng này của họ và cho ra đời những mẫu bánh copy.

Carol Chow, người chủ của hiệu bánh, có bằng cử nhân nghệ thuật. Ngoài việc bán các loại bánh thông thường, Chow dành hầu hết thời gian xử lý các đơn hàng theo yêu cầu của khách, từ các loại bánh hình iPhone, đến bánh hình nhân vật hoạt hình. Hiện nay, bánh quy iPhone và bánh ngọt iPad đang là mặt hàng “hot”, giá của một chiếc bánh quy iPhone khởi điểm từ 228 tệ (35 USD) trở lên.


“Tôi làm đồ tráng miệng iPhone và iPad vì chúng thực sự rất 'hot' hiện nay. Tất cả mọi người đều muốn có chúng nhưng nhiều người không đủ tiền mua. Vì thế, tôi nghĩ sẽ thú vị khi làm bánh hình iPhone, iPad. Những chiếc bánh này cũng được tùy biến, bổ sung thêm các bức thông điệp khác nhau”. CCSweets chuyên phục vụ các khách hàng cao cấp của Trung Quốc.


Những chiếc bánh tráng miệng này có giá từ 30-465 USD, đắt hơn nhiều so với mức giá trung bình của đồ tráng miệng thông thường tại Bắc Kinh. Tuy nhiên, hiện nay những mẫu bánh có thiết kế đặc biệt của hiệu bánh CCSweets đang bị các hiệu bánh khác copy mẫu. “Có nhiều người đánh cắp ý tưởng của chúng tôi và ngành công nghiệp copy đang phát triển rất nhanh ở Trung Quốc, nhanh hơn bất kỳ quốc gia nào khác”, Chow nói.


B.B
Theo Ntdtv

Những bí mật về “CEO thời chiến”


CEO.jpg
Steve Jobs (CEO của Apple, trái) và Eric Schmidt (cựu CEO của Google, phải) là những ví dụ điển hình nhất của CEO thời chiến và CEO thời bình trong thế giới công nghệ hiện đại.

Những bí mật về “CEO thời chiến”


ICTnews – Họ cũng là những CEO nhưng được giao nhiệm vụ “phá vỡ tất cả những quy tắc, những luật lệ”, được làm việc theo phong cách "điên khùng" để chèo lái công ty vượt qua thời kỳ gian khó.
Từ câu chuyện của Google


Những ngày qua, giới công nghệ ở Silicon Valley truyền tai nhau một đoạn hội thoại được “chế” lại theo cuốn tiểu thuyết kinh điển “Bố già”. Trong đoạn hội thoại giữa nhân vật Tom Hagen, người cố vấn thân cận nhất với ông trùm Michael Corleone, Tom đã hỏi: “Mike, vì sao tôi bị loại?” và câu trả lời của ông trùm là: “Ông không phải là nhà lãnh đạo của thời chiến. Mọi thứ sẽ rất khắc nghiệt khi chúng ta chuyển hướng”.


Đoạn hội thoại được “chế” chỉ có điểm khác là nhân vật Tom Hagen được thay bằng Eric Schmidt và Michael Corleone là Larry Page.


Và đó cũng chính là một trong những bí mật rất ít người biết về cuộc chuyển giao lãnh đạo vừa qua ở Google. Ông Eric Schmidt – người đã từng chỉ huy con tàu Google chạy phăng phăng suốt hơn 10 năm qua với vô số những thành công và hiện vẫn đang là hãng công nghệ Internet lớn nhất thế giới đã quyết định từ chức để Larry Page, một đồng sáng lập hãng lên thay thế.


Đối với giới công nghệ ở Silicon Valley, Page là một người khá nhút nhát, ít nói, sống hơi khép kín thay vì phong cách quảng giao như Schmidt.


Nhưng vì sao ông Schmidt lại bị truất ngôi dù mọi việc ở Google vẫn đang khá ổn và ông này cũng không hề có “phốt” nào? Đơn giản là ban lãnh đạo Google đã xác định rằng hãng sắp sửa bước vào “thời chiến” và Schmidt là vị CEO chỉ phù hợp với “thời bình”.


CEO thời chiến – Họ là ai?


Có thể hiểu “thời kỳ hòa bình” của một công ty là khi nó đang tận hưởng những lợi thế vượt trội so với các đối thủ trên thị trường lõi của mình đồng thời thị phần của nó vẫn đang liên tục tăng trưởng. Trong thời kỳ hòa bình, nhiệm vụ chính của CEO là tập trung vào việc “bành trướng” và tăng cường sức mạnh của công ty.


Còn “thời chiến” là khi một công ty buộc phải đưa ra những quyết sách mạnh mẽ nhằm bảo vệ sự tồn vong của mình trước hàng loạt những mối đe dọa đến từ bên ngoài lẫn bên trong. Những sự đe dọa ấy có thể đến từ sự cạnh tranh của các đối thủ, từ sự biến động bất thường của nền kinh tế vĩ mô hay đơn giản là mục tiêu của thị trường đã thay đổi dẫn đến chuỗi cung ứng cũng thay đổi…


Ví dụ điển hình nhất về thời kỳ hòa bình của một doanh nghiệp chính là sự thành công của Google trong suốt hơn 1 thập kỷ qua. Còn thời kỳ chiến tranh là vào khoảng giữa những năm 1980 của thế kỷ trước, khi Intel bị buộc phải đối đầu với các hãng bán dẫn Nhật Bản nếu không muốn phải phá sản hoặc từ bỏ lĩnh vực chủ chốt nhất chiếm hơn 80% số nhân công của hãng.


Cũng bởi hoàn cảnh khác nhau nên phong cách quản lý của các CEO thời chiến và CEO thời bình cũng rất khác nhau nhưng có một điều quan trọng là hầu hết các giáo trình đào tạo về quản trị hiện nay mới chỉ đề cập và hướng dẫn mọi người “cách làm một CEO thời bình” kiểu như: Đừng bao giờ làm mất mặt một nhân viên của mình trước đám đông. Nhưng Andy Grove, cựu Tổng giám đốc của Intel, một trong những “CEO thời chiến” huyền thoại đã từng thẳng thừng mắng vào mặt một nhân viên dưới quyền trước mặt rất nhiều người vì “tội” đi họp muộn: “Tất cả những gì tôi có trên thế giới này chỉ là thời gian và anh đang làm lãng phí thời gian của tôi”.


Trong thời bình, những lãnh đạo cần phải tối đa hóa và  liên tục mở rộng những cơ hội mới cho công ty nên yêu cầu tất yếu đối với họ là cần phải áp dụng những kỹ thuật nhằm khuyến khích sự sáng tạo một cách rộng rãi và chấp nhận sự đóng góp ý tưởng từ rất nhiều nguồn khác nhau. Ngược lại, trong thời chiến, yêu cầu đầu tiên là toàn bộ công ty phải trở thành “một viên đạn duy nhất” bằng mọi giá phải nhắm thẳng và đi một mạch đến đích dưới sự quản lý cực kỳ gắt gao và khoảng thời gian ngắn nhất.


Hẳn nhiều người còn nhớ, khi ông Steve Jobs quay trở lại Apple lần thứ 2, hãng này đã gần như phá sản hoàn toàn – một tình huống thời chiến kinh điển. Khi đó, ông Jobs yêu cầu tất cả các nhân viên phải chấp hành một cách chính xác tuyệt đối mọi mệnh lệnh cũng như kế hoạch của ông. Tại Apple khi đó, không có chỗ cho bất kỳ một sự sáng tạo cá nhân nào ngoài mục tiêu chính của công ty.


Ngược lại, ở thời bình, Google đã và đang tiếp tục cho phép (thậm chí là bắt buộc) các nhân viên được sử dụng 20% khoảng thời gian làm việc hàng ngày cho các dự án cá nhân.


Andy.jpg
Andy Grove, cựu Tổng giám đốc của Intel, một trong những “CEO thời chiến” huyền thoại
“CEO thời chiến” khác gì “CEO thời bình”?


-CEO thời bình biết chắc chắn rằng những giải pháp, công cụ đúng đắn sẽ mang đến chiến thắng. CEO thời chiến lại phải biết phá vỡ tất cả những quy tắc thông thường để chiến thắng.


- CEO thời bình tập trung vào bức tranh toàn cảnh và trao cho các nhân viên của mình quyền được quyết định những chi tiết. CEO thời chiến cần phải quan tâm đến từng “hạt bụi” tại công ty nếu nó có tác động đến hướng đi chuyển động.


- CEO thời bình xây dựng một cỗ máy tuyển dụng khổng hồ. CEO thời chiến cũng có thể làm thế nhưng còn cần phải xây dựng một phòng nhân sự có khả năng… sa thải hàng loạt.


- CEO thời bình dùng thời gian để tạo dựng văn hóa doanh nghiệp. CEO thời chiến để cho “cuộc chiến tranh” tạo ra văn hóa.


- CEO thời bình biết cần phải làm gì với những lợi thế vượt trội mà họ đang có. CEO thời chiến coi đó là sự hoang tưởng.


- CEO thời bình cố gắng tối đa để không sử dụng các ngôn từ tục tĩu. CEO thời chiến đôi khi coi việc sử dụng ngôn từ “mạnh” là trường hợp cần thiết.


- CEO thời bình nhắm đến mục tiêu mở rộng thị trường. CEO thời chiến nhắm đến việc chiến thắng thị trường.


- CEO thời bình cố gắng kiên nhẫn với những sự thất bại, sai sót nhỏ khi đã nỗ lực và sáng tạo nhưng với CEO thời chiến, đó là hành động không thể tha thứ.


- CEO thời bình thường không bao giờ lên giọng, CEO thời chiến ít khi nói ở ngữ điệu và âm vực bình thường.


- CEO thời bình làm việc để hạn chế tối đa những sự xung đột. CEO thời chiến khuyến khích và đề cao sự khác biệt, tương phản giữa các cá thể.


- CEO thời bình đào tạo nhân viên để đảm bảo sự thỏa mãn và phát triển sự nghiệp của mình nhưng CEO thời chiến đào tạo nhân viên để làm sao họ đừng “chổng mông” vào cuộc họp của công ty.


Một người có thể đóng cả 2 vai không?


Vấn đề đặt ra là một Ceo thời bình có thể tự trở thành một CEO thời chiến hoặc ngược lại không? Rõ ràng, thực tế đã cho thấy trường hợp này là có nhưng vô cùng hiếm hoi.


Hãy nhìn vào ví dụ của John Chambers, một vị CEO thời bình đã từng đưa Cisco “lên mây” nhưng lại vô cùng chật vật khi phải điều hành hãng này “chiến đấu” chống lại Juniper, HP và một loạt những đối thủ cạnh tranh mới.
Nhưng Steve Jobs, một người vô cùng nổi tiếng khi điều hành Apple trong “thời chiến” nhưng đã bị “bật bãi” khỏi hãng trong thời kỳ hòa bình sau đó và chỉ trở lại chiếc ghế cao nhất của Apple khi hãng này đang trên bờ vực phá sản. Ông đã đưa Apple trở lại, chiến thắng trên hầu hết các mặt trận mà Apple tham gia và sắp tới, khi Apple bước vào thời kỳ hòa bình, nhiều người tin rằng Jobs sẽ rút lui kể cả khi sức khỏe của ông cho phép.


Đối với một CEO, để có thể trở thành người lãnh đạo công ty trong cả thời bình và thời chiến, ông ta cần phải cực kỳ thành thạo những kỹ năng lãnh đạo và biết được khi nào cần phải tuân theo “sách vở” và khi nào cần phải dẹp bỏ những quy định khuôn sáo đó.


Hãy cảnh giác và nhớ rằng, hầu hết các giáo trình về quản lý doanh nghiệp hiện nay trên thế giới đều được viết ra dựa trên nghiên cứu những thành công của các doanh nghiệp trong thời bình nên chúng không hề mang lại một chút kinh nghiệm nào khi công ty bước vào thời chiến.


Có lẽ, các nhà quản trị cần phải mang sách vở đến học trực tiếp ở chỗ Steve Jobs hay Andy Grove.


Lê Trí
Theo CIO, Forbes

Saturday, May 21, 2011

Những lý do khiến tiếp thị bằng TTXH thất bại


Truyền thông xã hội (TTXH – social media) đang trở thành một công cụ thời thượng của ngành tiếp thị. Nhiều công ty hàng đầu đã và đang đổ tiền vào các chiến dịch quảng cáo rầm rộ trên các trang như Facebook, Twitter hay YouTube. Tuy nhiên , tác động thật sự của truyền thông xã hội đến thương hiệu, doanh số và dịch vụ khách hàng vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi.
Jonathan Salem Baskin – Chuyên gia thương hiệu đã từng làm việc cho Apple, Blockbuster và Limited Inc. đưa ra một số ví dụ: Old Spice đăng tải nhiều video trên Youtube nhưng chính quảng cáo và tiếp thị truyền thống mới thu hút người tiêu dùng mua hàng. Burger King và Pepsi là những thương hiệu tiên phong trong việc sử dụng TTXH để tiếp thị nhưng doanh số bán hàng vẫn giảm.

Tuy nhiên, phải nói ngay rằng TTXH không phải là nguyên nhân dẫn tới sự sụt giảm doanh số của các thương hiệu nói trên. Vấn đề nằm ở chỗ, các công ty này đã không xác định được mục tiêu rõ ràng của các chiến dịch TTXH và sử dụng không hiệu quả các công cụ này. Mặc khác, theo Baskin, các nhà tiếp thị nhận thức về TTXH dựa trên các quan điểm tiếp thị quá cũ.
Cách làm hiện nay của các chiến dịch TTXH là cố gắng tác động đến quyết định mua hàng của người tiêu thụ thông qua các nội dung quảng cáo gián tiếp đăng tải trên các mạng xã hội dưới hình thức blog, ảnh,video… Việc này chẳng khác nào việc phát những đoạn phim quảng cáo có nội dung không đề cập trực tiếp tới sản phẩm, chỉ khác là nó được chuyển tải tới khách hàng qua mạng internet.
Sau đây những nhận định sai lầm khiến việc tiếp thị bằng TTXH đi chệch hướng.
1. “Thương hiệu” tồn tại như một thực thể
Các nhà tiếp thị đã quen với suy nghĩ “Thương hiệu tồn tại như một thực thể”. Trên thực tế, “thương hiệu” chỉ là một khái niệm trừu tượng mà thôi. Bản thân thương hiệu không có giọng nói, danh tiếng, thuộc tính riêng hay hành động. Khi các nhà quảng cáo đánh giá mức độ nhận biết của một thương hiệu nào đó, họ chỉ ghi lại nhận định của khách hàng về thương hiệu trong một khoảng thời gian cố định. Vì vậy, ý định tạo ra các cuộc đối thoại giữa “thương hiệu” và ”người tiêu dùng” là không có cơ sở. Khách hàng nói về thương hiệu chứ không nói với thương hiệu. Thay đổi nhận thức của bạn về thương hiệu là bước đi quan trọng đầu tiên giúp bạn sử dụng hiệu quả hơn, xác định được mục đích khi sử dụng các kênh truyền thông này. Bạn cần tạo điều kiện cho khách hàng nói về thương hiệu của bạn.
2. TTXH đem tới cơ hội đối thoại với khách hàng
Các nhà tiếp thị thuyết phục bạn: Mạng xã hội không giống các phương tiện truyền thống, nó sẽ giúp bạn tiếp cận trực tiếp, nhanh hơn và gần hơn với khách hàng. Thế là họ tích cực tận dụng mọi phương tiện truyền thông để giúp bạn giao tiếp với khách hàng. Tuy nhiên, cuộc đối thoại nào cũng có giá của nó và bạn phải mất rất nhiều tiền bạc và thời gian để làm được điều đó. Đối thoại cũng không phải là việc mới mẻ và không phải đợi đến khi mạng xã hội ra đời thì nhà kinh doanh mới có cơ hội đối thoại với khách hàng. Bạn nên hạn chế giao tiếp với khách hàng nếu các cuộc nói chuyện này không hướng đến một mục tiêu hay đem tới những giá trị cụ thể.
3. TTXH giúp thương hiệu có thêm bạn *(friend trong friendlist), cũng có nghĩa là thêm khách hàng
Bạn có một danh sách bạn bè (friendlist) hoặc người hâm mộ (fan) dài dằng dặc không có nghĩa tất cả họ đều là khách hàng của bạn. Một cú click chuột không nói lên điều gì đáng kể. Các trang mạng xã hội cung cấp cho bạn chức năng “ Thêm bạn” hoặc “Thích” không có nghĩa là bạn và khách hàng có một mối quan hệ bạn bè thực sự.”Bạn bè“ hiểu đúng nghĩa của nó cần nhiều yếu tố hơn thế. Ngoài tình cảm, tình bạn còn đòi hỏi những hành động quan tâm lẫn nhau trên thực tế. Việc chuyển đổi danh sách bạn bè thành danh sách khách hàng không đơn giản. Và mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng, không thể được duy trì bằng các trò giải trí online. Điều quan trọng không phải là thu hút được nhiều người nhấn nút “Thích” (Like). Bạn phải tận dụng mọi cơ hội tương tác với khách hàng để giao tiếp hiệu quả và thuyết phục được họ sử dụng dịch vụ, sản phẩm. Chất lượng quan trọng hơn số lượng.
4. Mục tiêu của các chiến dịch TTXH không phải là bán hàng
Các nhà tiếp thị vẫn sử dụng nhận định này để giải thích cho mục tiêu của các chiến dịch TTXH. Họ tổ chức các chiến dịch TTXH không nhằm mục đích bán hàng mà củng cố mức độ nhận biết thương hiệu. Nhưng sự thật là:
1) Người tiêu dùng vẫn không tin tưởng thương hiệu
2) Các doanh nghiệp tiếp tục làm mọi cách để nâng cao giá trị thương hiệu
3) Người tiêu dùng hiện nay là ít trung thành hơn bao giờ hết
Doanh nghiệp đưa thông tin cho thị trường theo nhiều cách khác nhau và ai cũng hiểu lý do tại sao họ làm vậy. Doanh nghiệp tồn tại là để bán hàng- đó là một thực tế không thể phủ nhận. Người tiêu dùng nhận thức được thực tế này nên khi bạn cố gắng nói tránh đi thì chỉ càng làm người tiêu dùng tăng thêm sự nghi ngờ (Dù họ rất thích thú và sẵn sàng tham gia các hoạt động miễn phí online (thường chẳng có giá trị gì).
Như vậy, mục tiêu của các chiến dịch TTXH phải là bán hàng.
Doanh nghiệp và các nhà tiếp thị – quảng cáo cần truyền đi thông điệp này một cách rõ ràng. Tăng doanh số phải là yếu tố hàng đầu đánh giá sự thành công của một chiến dịch TTXH.

Nguồn IMEDIACONNECTION – dịch PHÚC AN – DNSG

Marketing cho thương hiệu hay sản phẩm?


Sản phẩm và thương hiệu, cái nào có trước? Khi nào nên ưu tiên cho Marketing sản phẩm, khi nào nên tập trung cho Marketing thương hiệu? Trong quá trình phát triển doanh nghiệp (DN), những câu hỏi dạng này thường được đặt ra.
Sản phẩm là cơ sở và một phần của thương hiệu
Ai cũng hiểu rằng, thương hiệu là một tài sản vô hình nhưng vô giá của DN. Song khi quyết tâm xây dựng thương hiệu, nhiều chủ DN lại không biết bắt đầu từ đâu, làm như thế nào. Để hiểu đúng, làm đúng trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển thương hiệu, đòi hỏi mỗi DN, đặc biệt là chủ thương hiệu cần có tư duy đúng về thương hiệu.
Nói một cách dễ hiểu nhất, thương hiệu là tất cả sự cảm nhận của khách hàng mục tiêu về sản phẩm, dịch vụ của DN. Để người tiêu dùng cảm nhận về thương hiệu tốt và đúng với định vị mong muốn của DN là cả một quá trình đầu tư lâu dài. Mặt khác, không phải cứ có quyết tâm là sẽ có được thương hiệu mạnh. Xét cho cùng, thương hiệu tồn tại khi và chỉ khi được người tiêu dùng xác nhận.
Có quan điểm cho rằng, lúc khởi nghiệp, chủ DN chỉ cần quan tâm đến sản phẩm. Nếu sản phẩm tốt thì người tiêu dùng sẽ yêu mến và lựa chọn, khi đó “tự nhiên” thương hiệu lớn lên, kiểu “hữu xạ tự nhiên hương”. Quan điểm này đưa ra dẫn chứng các “câu chuyện thương hiệu” của Việt Nam như Thái Tuấn, Đồng Tâm, hay Kinh Đô,…
Ban đầu, các DN này tập trung cho Marketing sản phẩm , sau đó tự nhiên thương hiệu được xây dựng. Nhưng thật ra, trong quá trình phát triển, Thái Tuấn hay Kinh Đô không chỉ chú trọng đến sản phẩm, mà họ đã quan tâm đến hầu hết các yếu tố làm nên bản sắc thương hiệu. Nhờ vậy mà thương hiệu của họ đã “ăn” sâu trong tâm trí khách hàng.
Hầu hết các doanh nhân đều hiểu rằng, cơ sở của thương hiệu là sản phẩm. Nghĩa là cần đầu tư cho sản phẩm, vì sản phẩm tồi là cách nhanh nhất để làm mất thương hiệu trên thị trường. Nhưng, sản phẩm không phải là tất cả. Người làm thương hiệu thường nhận thức rõ thương hiệu là phạm trù rộng lớn hơn sản phẩm.
Chẳng hạn, nếu nói P/S là chuyên gia chăm sóc răng miệng thì kem đánh răng, bàn chải, hay nước súc miệng là những sản phẩm cụ thể của P/S. Nếu nói An Phước là chuyên gia chăm sóc phong cách, thì áo sơ mi chỉ là một sản phẩm. Do vậy khi xây dựng thương hiệu, người lãnh đạo cần quan tâm đến tất cả các vấn đề của DN chứ không chỉ quan tâm đến sản phẩm, và trong đó cần đặc biệt quan tâm đến yếu tố con người.
Sự khác biệt tạo ra thương hiệu
Trong thực tế, khi mua hàng, người tiêu dùng không chỉ mua phần vật lý mà còn mua cả phần cảm xúc được chứa đựng trong sản phẩm. Yếu tố cảm xúc – cái bên ngoài sản phẩm, do những người làm marketing tạo ra, làm cho sản phẩm trở nên hoàn thiện và thuyết phục khách hàng mục tiêu rất quan trọng, có thể quyết định và làm gia tăng giá trị cho sản phẩm.
Nếu trước đây giá cả thúc đẩy bán hàng thì ngày nay, giá trị của sản phẩm sẽ quyết định việc khách hàng có đến với thương hiệu hay không. Giá trị ở đây là tất cả những gì khách hàng có được khi đến với thương hiệu, chứ không chỉ đơn thuần là phần chức năng của sản phẩm.
Cũng là phương tiện đi lại, nhưng mỗi nhãn hiệu xe hơi mang đến cho khách hàng các mỗi giá trị cảm nhận hoàn toàn khác nhau, thông qua định vị của thương hiệu. Với sự khác biệt đó, bằng các công cụ marketing, chủ thương hiệu sẽ giữ chân khách hàng và gia tăng khách hàng trung thành.
Vấn đề là làm marketing như thế nào để khách hàng cảm nhận điều DN mong muốn. Tùy từng ngành hàng, từng loại sản phẩm với những đặc thù riêng, người làm marketing sẽ sử dụng các công cụ khác nhau để mang thông điệp sản phẩm đến với khách hàng mục tiêu.
Với nhóm sản phẩm là dược phẩm hay thực phẩm dinh dưỡng, người làm marketing sẽ phải phân tích rất chi tiết về tính năng sản phẩm, từ tính năng đó chuyển sang lợi ích gì cho khách hàng mục tiêu. Nếu Abbott là loại sữa có chứa hệ dưỡng chất IQ, thì Dumex là loại sữa có chứa hỗn hợp Prebiotics hình thành hệ miễn dịch, khách hàng đã từ lâu nhận diện rõ như vậy…
Để có được điều này, người làm marketing các nhãn sữa trên chắc chắn sẽ phải đưa ra những thông điệp thông qua các phương tiện truyền thông, để khách hàng hiểu rõ lợi ích của từng loại sữa khác nhau. Với những ngành hàng như dược phẩm, công nghệ, máy công nghiệp…, đặc tính sản phẩm vượt trội có thể trở thành ưu thế. Cách làm như vậy được gọi là marketing tập trung vào sản phẩm.
Tuy nhiên không phải người làm marketing nào cũng gặp “may mắn” là sản phẩm có sẵn sự khác biệt về công nghệ hay lợi ích chức năng. Trong nhiều trường hợp, “sự khác biệt” do chính người làm marketing tạo ra. Tạo ra sự khác biệt, nhằm định vị cho thương hiệu, là cả một quá trình sáng tạo của người làm marketing.
Thông thường, người làm marketing bắt đầu đi từ mong muốn của khách hàng, để gắn kết cảm xúc của khách hàng với sản phẩm, từ đó cảm xúc với thương hiệu được hình thành trong tâm trí khách hàng.
Thương hiệu tranh cát Ý Lan có lợi ích chức năng là vẻ đẹp của cát trong tác phẩm nghệ thuật, còn lợi ích cảm xúc thể hiện ở nét đẹp của văn hóa Việt. Thương hiệu này được người tiêu dùng biết đến thông qua sự định vị độc đáo và cách làm thương hiệu sáng tạo.
Cụ thể, đề xuất được vẽ chân dung các nguyên thủ quốc gia bằng cát của tranh cát Ý Lan được Ban tổ chức APEC 2006 chấp nhận. Qua cách tiếp thị độc đáo này, người tiêu dùng trong và ngoài nước đã biết đến tranh cát Ý Lan, và thương hiệu này đã được truyền miệng khắp nơi…
Marketing cho cảm xúc thương hiệu
Khi định vị thương hiệu, phải tùy thuộc vào điểm mạnh và nguồn lực của từng DN trên cơ sở là sự khác biệt. Trong quá trình định vị, DN phải biết “hy sinh”, không ôm đồm; phải nhất quán và trung thành với mục tiêu của mình. Sự “hy sinh” của DN được thể hiện ở chỗ đã chọn lựa vị trí này thì phải bỏ vị trí khác. Một hình ảnh cao cấp không thể dành cho giới bình dân và ngược lại.
Như vậy, làm marketing cho thương hiệu không chỉ là quảng cáo hay những chương trình khuyến mãi hoành tráng, mà là làm tốt những điểm tiếp xúc của thương hiệu đối với khách hàng mục tiêu.
Hệ thống tiếp xúc của thương hiệu đối với khách hàng mục tiêu có thể được hiểu gồm hai phần: “phần cứng” và “phần mềm”. “Phần cứng” là hệ thống nhận diện do DN thiết kế, để truyền thông thương hiệu cho nhất quán và chuyên nghiệp. Phần này như một chiếc áo bên ngoài của thương hiệu, chiếc áo đẹp, có yếu tố khác biệt sẽ tạo ra sự nhận diện tốt.
Tuy nhiên, thương hiệu vẫn không có được chỗ đứng trong tâm trí người tiêu dùng nếu thiếu “phần mềm”. Đó là nụ cười cô bán hàng, là những chương trình chăm sóc khách hàng, là cách ứng xử của DN…, nói chung là yếu tố con người.
Thực tế cho thấy, các DN không nên tạo sự khác biệt cho sản phẩm chỉ đơn thuần về mặt chức năng, mà phải kết hợp với những yếu tố xúc cảm thông qua các công cụ “mềm”. Cách làm marketing này được gọi là marketing cho cảm xúc thương hiệu, và cái đích của nó là tạo những cảm nhận tốt đẹp trong tâm trí khách hàng.
(Theo Doanh Nhân Sài Gòn)