Tuesday, April 17, 2012

Chàng tổng giám đốc đi lên từ lễ tân khách sạn


Tốt nghiệp loại giỏi chuyên ngành luật thương mại tại ĐH Luật TP.HCM, Vương Hữu Hùng (35 tuổi, quê Hậu Giang) gác tấm bằng cử nhân sang một bên để đi làm... lễ tân khách sạn.
Sau 5 năm anh được công nhận là giám đốc bán hàng xuất sắc
Sau năm năm, từ một nhân viên lễ tân, Vương Hữu Hùng được Tập đoàn nhà hàng khách sạn Marriott International công nhận là giám đốc bán hàng xuất sắc nhất VN (2004) với doanh thu tạo ra vượt chỉ tiêu hơn 50% liên tiếp trong hai năm. Đây là tập đoàn lớn với 2.300 khách sạn ở 80 quốc gia. Hiện anh là tổng giám đốc Công ty tư vấn và đào tạo bán hàng Fresh View.
Chàng lễ tân nhiều khát vọng
Năm 1999, sau khi tốt nghiệp cử nhân loại giỏi, Vương Hữu Hùng đã làm một việc mà nhiều người không tin nổi: xếp hàng suốt 2 giờ để nhận hồ sơ xin việc tại khách sạn 5 sao Renaissance Riverside Sài Gòn với vị trí... lễ tân.
Công việc lễ tân đòi hỏi người làm phải chịu khó đứng liên tục trong suốt thời gian trực. Điều này khiến người làm rất mệt mỏi và dễ cáu gắt khi giải quyết những sự cố với khách hàng. "Tôi chọn công việc này vì nó giúp rèn luyện tính nhẫn nại, tỉ mỉ, biết kiểm soát cảm xúc và cái tôi" - Hùng giải thích.
"Mục tiêu công việc tôi đặt ra cho bản thân bao giờ cũng cao hơn mức yêu cầu của công ty 75% và tôi quyết liệt hoàn thành mục tiêu ấy"
Vương Hữu Hùng
Làm lễ tân, hết ca trực, thường nhân viên sẽ mặc người ca sau tự giải quyết những sự cố là hậu quả của nhiều ca trước đó. Nhưng Hùng thì khác, anh ghi chép những điều có thể tạo nên sự cố ở ca của mình và trao đổi với nhân viên ca sau trước khi về. Thậm chí có hôm anh ở lại hỗ trợ nhân viên ca kế tiếp cho đến khi mọi việc ổn thỏa.
"Ngoài việc đảm bảo công việc được suôn sẻ, tôi luôn nắm được những nguyên nhân nhỏ nhất có thể gây nên sự cố trong dịch vụ khách sạn" - Hữu Hùng cho biết. Sự nhiệt tình ấy đã lọt vào mắt quản lý khách sạn và sau 14 tháng làm việc, anh được bổ nhiệm vị trí đặt phòng và 10 tháng sau vào vị trí điều hành kinh doanh. Đối với một lễ tân thì sự thăng tiến ấy là quá nhanh nhưng theo Hùng, thành công lớn nhất trong thời điểm đó của anh là bước qua cái bóng của tấm bằng đại học.
Hữu Hùng bảo rằng khi chọn công việc lễ tân sau khi lấy bằng cử nhân, gia đình đã sốc và tạo nhiều áp lực với anh. Cũng lúc đó anh và bạn gái chia tay vì bố mẹ cô gái cho rằng việc qua lại với một lễ tân khách sạn không có tương lai. Trước lúc chia tay anh nói: "Ngày hôm nay là lễ tân nhưng ngày mai tôi sẽ là giám đốc của một khách sạn".
Vương Hữu Hùng - Ảnh: Mai Vinh
"Chưa từng có tiền lệ"
Trong lúc làm điều hành kinh doanh tại khách sạn Renaissance Riverside Sài Gòn, anh mò mẫm bí quyết của người bán hàng giỏi. Anh chọn việc bán bảo hiểm nhân thọ cho Hãng Prudential. Hùng gặp khó khăn ngay với vị khách hàng đầu tiên cũng là người quen. Họ từ chối gặp anh ngay khi anh nhắc đến bảo hiểm.
Với nhiều khách hàng khác anh cũng gặp tình trạng tương tự. "Khách hàng không thích sản phẩm bảo hiểm, phần lớn họ không muốn nói về nó với những điều tồi tệ nhất", anh nghĩ vậy và bày ra việc khảo sát xoay quanh những lý do họ không thích mua bảo hiểm để tiếp cận. Và bao nhiêu khách hàng làm khảo sát thì có bấy nhiêu hợp đồng được ký vì nội dung khảo sát của Hùng khiến họ hiểu những lợi ích khi mua bảo hiểm nhân thọ. Anh đã khá thành công ở lĩnh vực này.
Sau lần thử sức ở Prudential, Vương Hữu Hùng bước chân vào ngành bán hàng với cương vị điều hành cao cấp việc bán các sản phẩm dịch vụ thuộc ngành nhà hàng, khách sạn, căn hộ cao cấp. Có một câu chuyện diễn ra trong thời gian anh làm việc tại Ascott International mà sau này ban lãnh đạo tập đoàn vẫn còn nhắc đến vì "chưa từng có tiền lệ".
Thời điểm ấy, giám đốc khu vực miền Bắc là một người nước ngoài nghỉ việc, để tìm một giám đốc điều hành thế chỗ là không dễ dàng. Anh tiến hành thương lượng với giám đốc khu vực Đông Dương là Henry Lim (người Singapore) rằng anh sẽ vừa làm giám đốc khu vực miền Nam và kiêm luôn khu vực phía Bắc với điều kiện anh phải được tăng 85% lương và cùng gia đình đi nghỉ tại Mỹ trong hai tháng, sau khi công việc ổn định. Ông Henry Lim gật đầu nhưng cũng cho biết sẵn sàng đương đầu với áp lực của hàng chục giám đốc điều hành trong khu vực. Quả đúng như vậy, hai tuần sau khi tin về việc tăng lương bất thường của Hữu Hùng lan ra thì đồng loạt các giám đốc khác yêu cầu được đáp ứng như Hữu Hùng, nếu không sẽ nghỉ việc.
Ông Henry Lim giải thích với sự cứng cỏi: "Tôi phải chọn người giỏi nhất để trao phần thưởng. Nếu ai muốn nghỉ việc, nộp đơn tôi sẽ ký tức khắc". Đồng thời ông cũng trưng ra bảng thành tích đóng góp cho tập đoàn của Hữu Hùng để bảo chứng cho quyết định của mình. Hữu Hùng nói về câu chuyện trên: "Tôi không hề liều lĩnh khi đàm phán với sếp một điều chưa từng có tiền lệ như thế. Tôi hiểu tôi đã cống hiến nghiêm túc như thế nào trong suốt quá trình làm việc".
Vương Hữu Hùng sinh năm 1977, tốt nghiệp loại giỏi ngành luật thương mại tại ĐH Luật TP.HCM. Từng là giám đốc kinh doanh và tiếp thị tại Tập đoàn đa quốc gia Ascott International, giám đốc bán hàng của Tập đoàn Marriott International (M.I), giám đốc kinh doanh Princess d'Annam Resort (Pháp), M.I trao giải thưởng "Giám đốc bán hàng xuất sắc nhất trong năm" vào năm 2004 và hai lần được Tập đoàn bất động sản Capitaland (Singapore) trao giải thưởng Iceberg vì những ý tưởng sáng tạo trong kinh doanh. Hiện anh là chuyên gia huấn luyện bán hàng, quản lý, lãnh đạo và cố vấn chiến lược kinh doanh trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, bất động sản.
Theo DĐDN

Tỷ phú số 1 thế giới: Trùm truyền thông mù tin học


(VEF.VN) - Ông trùm viễn thông Mexico Carlos Slim Helu tiếp tục là người giàu nhất hành tinh, theo bảng xếp hạng thường niên các tỷ phú giàu nhất thế giới do Forbes công bố ngày 7/3 vừa qua.
Bên cạnh những phẩm chất của một doanh nhân thành đạt, Carlos Slim còn thể hiện một lối sống và trách nhiệm với xã hội mà không phải người giàu nào cũng có.\
"Mù" tin học vẫn làm trùm truyền thông
Đây là năm thứ 3 liên tiếp, tỷ phú viễn thông người Mexico giữ vị trí này. So với năm 2011, tài sản của tỷ phú người Mexico đã giảm khoảng 5 tỷ USD và bị người thứ 2 trong danh sách là ông chủ của Microsoft rút ngắn khoảng cách. Tuy nhiên, với tài sản ước tính khoảng 69 tỷ USD, Carlos Slim vẫn giữ được ngôi vị quán quân. Phần lớn tài sản của ông đến từ việc cung cấp dịch vụ viễn thông và bất động sản.
Carlos Slim sẽ không thể giàu như ngày nay nếu ông không đầu tư vào công nghệ. Nhưng sự thật là tỷ phú này không hề sử dụng máy tính, mà thay vào đó là giấy và bút.  Dù không biết chút gì về tin học, nhưng với tầm nhìn chiến lược của mình, Carlos Slim đã sớm nhận ra tin học và viễn thông sẽ là lĩnh vực kinh doanh có tính toàn cầu.
Năm 1990, Nhà nước Mexico quyết định tư nhân hóa công ty điện thoại và viễn thông quốc gia. Chẳng phải là một chuyên gia kỹ thuật, thậm chí ông còn không biết tiếng Anh và cũng chẳng dùng được máy tính, nhưng Carlos Slim đã mạnh tay đầu tư vào lĩnh vực mới mẻ này.
Đầu tư vào công nghệ nhưng tỷ phú Carlos Slim không hề sử dụng máy tính, mà thay vào đó là giấy và bút.
Texmex là một trong những tập đoàn viễn thông đầu tiên trên thế giới có ngay dịch vụ Internet ADSL phục vụ khách hàng. Kề ngay sau những chiến dịch quảng cáo rầm rộ, Carlos Slim tiếp tục làm các đối thủ cạnh tranh "giật mình" khi ông tuyên bố cung cấp miễn phí Internet cho thanh thiếu niên. Năm 2011, tập đoàn truyền thông của Slim nắm giứ 70% thị phần mạng không dây và 80% thị phần điện thoại cố định.
Năm 2000, với tầm nhìn chiến lược của mình, Slim đã đoán trước được sự giảm sút của mạng điện thoại dây truyền thống và thay vào đó sẽ là thời của điện thoại di động. Công ty America Movil của Carlos Slim là công ty nội duy nhất có thể cạnh tranh được với những đối thủ từ Mỹ và châu Âu. Đến cuối năm 2003, America Movil đã đạt số khách hàng là 40,4 triệu và dần dà kiểm soát phần lớn thị phần trong nước.
Sau khi thâu tóm trong nước, Slim tìm cách vươn ra các thị trường quốc tế, thoạt đầu là thị trường Mỹ Latinh. America Movil hiện có mặt tại 18 quốc gia, trong đó có Mỹ. Carlos Slim cũng đang nắm cổ phần chi phối tập đoàn viễn thông lớn nhất của Brasil là Embratel Participa.  Hiện Texmex đã sát nhập với America Movil và trở thành tập đoàn truyền thông lớn nhất châu Mỹ Latinh, còn Carlos Slim nắm giữ 43% cổ phiếu của tập đoàn này với giá trị ước tính khoảng 39 tỉ USD.
Ở nhà cũ, tự lái xe
Mặc dù đa phần tài sản của Carlos Slim đến từ việc cung cấp dịch vụ điện thoại cho hầu hết người dân Mexico, Carlos Slim cũng mở rộng kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác. Ông Slim còn có cổ phần trong các ngành thực phẩm, xây dựng, khai mỏ, thuốc lá, bán lẻ... Sự giàu có của Carlos Slim không phải là sản phẩm từ một công ty riêng lẻ nào, mà là của tổ hợp hàng trăm công ty. Carlos Slim và gia đình hiện đang kiểm soát trên 200 công ty khác nhau.
Trên  tất cả các khu vực trung tâm mua bán sầm uất quan trọng nhất trong thành phố Mexico đều có các cửa hàng của Carlos Slim. Kế đó là sự ra đời và phát triển chóng mặt chuỗi nhà hàng Sanborns - hệ thống nhà hàng cao cấp lớn nhất Mexico và có mặt tại hầu hết thành phố lớn. Tầm ảnh hưởng của ông lớn đến nỗi người Mexico có một câu nói, "Không thể sống qua một ngày nếu không chuyển vào ví của Slim 1 Peso".
Là người giàu có nhất thế giới nhưng không hãnh tiến và khoe khoang, ngược lại, Carlos Slim sống rất giản dị. Cũng giống như tỷ phú Waren Buffet, ông vẫn sống trong ngôi nhà cũ mà ông đã ở trong phần lớn thời gian của cuộc đời, thỉnh thoảng ông cũng tự lái xe đi làm.
Trách nhiệm xã hội
Khi được tạp chí Forbes hỏi rằng cuộc đời mình đã thay đổi thế nào sau hơn hai thập kỷ là tỷ phú, Slim trả lời, "Tôi có nhiều hoạt động hơn, nhiều trách nhiệm hơn và nhiều sự thỏa hiệp hơn". Sự thỏa hiệp mà Slim nhắc tới, đó là những thách thức để giải quyết các vấn đề hiện tại ở Mexico. "Tôi đang nỗ lực trong phạm vi của mình đế đưa đất nước Mexico trở nên tốt đẹp hơn", ông nói.
Carlos Slim có rất nhiều đóng góp cho xã hội. Bên cạnh số tiền thuế rất lớn nộp ngân sách cũng như hàng chục nghìn việc làm tại một đất nước có tỉ lệ thất nghiệp khá cao này, ông còn thành lập ra khá nhiều các quỹ tài trợ và quỹ từ thiện.
Trong năm 2010, quỹ Carlos Slim Foundation đã kết hợp với quỹ Bill & Melinda Gates và chính phủ Tây Ban Nha để xây dựng hệ thống tăng cường chăm sóc sức khỏe cho những người nghèo sống ở Nam Mexico và Trung Mỹ. Ước tính mỗi bên đã quyên góp một khoản tiền trị giá 50 triệu USD. Quỹ Slim Foundation của ông hiện có khoảng 4 tỉ USD và đang tập trung vào cải thiện các vấn đề về giáo dục và y tế.
Bàn về cách giải quyết các vấn đề hiện tại của nền kinh tế, ông Slim cho rằng, "Tôi không nghĩ đây chỉ là vấn đề của riêng chính phủ, mà chính các doanh nhân và doanh nghiệp  lại có nhiều kinh nghiệp hơn trong việc quản lý nguồn lực, và có thể dễ dàng giải quyết vấn đề này hơn so với các chính trị gia, những kẻ nhìn từ phía khác, những kẻ chỉ nghĩ tới bầu cử và làm cách nào để mình nổi tiếng".
Mục tiêu lớn nhất mà ông muốn đạt được trong cuộc chiến chống lại nghèo đói là xây dựng một nền "kinh tế tốt đẹp, trong đó bao hàm cả đạo đức và luân lý".
"Phải làm sao để người dân thoát khỏi cảnh nghèo đói và giúp họ gia nhập nền kinh tế hiện đại. Như thế mới là một nền kinh tế tốt cho đất nước, cho xã hội và cho chính các doanh nghiệp. Đó mới là khoản đầu tư tuyệt vời nhất".

Jack Dorsey và câu chuyện Twitter


Jack Dorsey làm cho người khác hiểu quyền lực của 140 ký tự, Twitter hiện là mạng xã hội nổi tiếng nhất sau Facebook và trị giá tới 7 tỷ USD.
Nhà đồng sáng lập Twitter - Jack Dorsey được vinh danh là một trong số 35 nhà sáng tạo hàng đầu thế giới ở độ tuổi dưới 35. Kỹ sư phần mềm Jack Dorsey sinh ngày 19/11/1976 tại Missouri (Mỹ). Anh làm quen với máy tính từ nhỏ và năm 13 tuổi đã có mơ ước biến chiếc máy tính thành trạm phát đi thông tin dẫn đường. Một số phần mềm đầu tiên do anh lập ra trên mã nguồn mở đã được nhiều hãng taxi đưa vào sử dụng.Khởi nghiệp từ thời sinh viên

Cậu bé Dorsey đã gắn bó suốt cả tuổi niên thiếu với người thân trong gia đình tại quê hương. Học hết phổ thông, Dorsey học tiếp lên Đại học Missouri vào chuyên ngành máy tính.

Sau năm thứ nhất đại học, chàng sinh viên Dorsey bắt đầu cảm thấy cuộc sống quá đơn giản với anh và muốn khẳng định mình ở một môi trường mới. Anh quyết định chuyển đến Đại học New York và ý tưởng về hệ thống chia sẻ tin nhắn ngắn ra đời từ đây. Dorsey mở một công ty cung cấp dịch vụ thông tin giao thông cho các hãng taxi và dịch vụ khẩn cấp để có nguồn thu nhập nuôi dưỡng dự án lớn hơn. 

Trong lúc điều hành hệ thống, Dorsey chỉ có thể hướng dẫn đường trong đô thị bằng gửi tin nhắn đến khách hàng sử dụng dịch vụ. Sự hạn chế đó đã giúp anh nhận ra nhu cầu của bạn bè muốn cho nhau biết họ đang ở đâu và làm gì chỉ qua một tin nhắn gửi lên và cả nhóm cùng đọc được. "Nếu ở công viên trung tâm, tôi có thể chia sẻ suy nghĩ trong thời gian thực bằng cách sử dụng một thiết bị di động. Nhưng đó là ý tưởng chưa hợp thời vào năm 2000", Dorsey nói về ý tưởng của mình.
Nhà sáng lập Jack Dorsey
Cải cách hệ thống gửi tin nhắn

Nung nấu ý định về một mạng blog viết tin ngắn cuối cùng đã ra đời năm 2006. Ý tưởng độc đáo với khả năng không chỉ thay đổi cách mọi người chia sẻ thông tin mà nó thay đổi cách thức con người tạo ra và đọc tin nhắn. Dorsey làm việc cật lực quên ăn quên ngủ trong 2 tuần để triển khai ý tưởng xây dựng một nguyên mẫu của Twitter hiện nay.
Bản phác thảo Twitter do Jack Dorsey thiết kế
(Ảnh: Wikipedia)

Nó thu hút nhiều người sử dụng tại Odeo ở giai đoạn bùng nổ điện thoại thông minh và nhận được tiền đầu tư của Evan Williams, người đã rời khỏi Google sau khi thoái lui dự án Blogger. Không công bố khoản đầu tư trị giá bao nhiêu nhưng Evan Williams đã chuyển hết số vốn tiết kiệm để mua cổ phần.

Sử dụng Twitter cho hội nghị
Nhà sáng lập Jack Dorsey mô tả về Twitter trong 3 từ ngắn gọn là "công cộng, thời gian thực và đơn giản". Chỉ với 140 ký tự một lần gửi tin nhưng Twitter đã tác động đáng kể lĩnh vực tài chính và kinh doanh.
NASA sử dụng Twitter gửi thông tin về chuyến du hành

Nhờ tính năng người dùng vừa là kênh tiếp nhận thông tin vừa tạo ra thông tin của Twitter đã được ứng dụng để triển khai các chiến dịch tiếp thị kinh doanh và thu về lợi nhuận từ dịch vụ quảng cáo. Lợi nhuận từ quảng cáo của Twitter năm 2010 lên tới 50 triệu USD, theo hãng nghiên cứu eMarketer. Mới đây, Twitter đã nhận được khoản đầu tư trị giá 3,7 tỷ USD và trở thành công ty dịch vụ web non trẻ nhất có các nhà đầu tư tư nhân đặt nhiều tỷ đô la vào hoạt động.

Jack Dorsey giới thiệu thiết bị thanh toán thẻ Square
trên nền tảng di động

Dorsey cũng bắt đầu một nền tảng mới hệ thống thanh toán thẻ tín dụng trên thiết bị di động Square do chính anh làm chủ tịch công ty. Tên gọi đã mô tả thiết bị này là một hình vuông nhỏ có khả năng gắn với các thiết bị như iPad, iPhone hoặc máy tính xách tay. Nhờ đầu đọc thẻ mini cho phép người quẹt thẻ của họ lựa chọn một số tiền cần giao dịch và sau đó xác nhận thanh toán. Anh cũng tiết lộ về kế hoạch triển khai dịch vụ Square vào thị trường thanh toán thẻ các nước châu Á.
- Twitter ra đời tháng 3/2006 nhưng đến tháng 7/2006 mới đưa lên mạng toàn cầu

- Năm 2007 Twitter được lựa chọn làm phương tiện thông tin hội nghị. Các thông điệp được hiển thị trên màn hình 60 inh. Sự kiện này làm tăng số các tin được gửi từ 20.000 lên 60.000 tin một ngày

- Có 600 nhân viên làm việc tại Twitter và lợi nhuận đạt 140 triệu USD năm 2010

- Ngày 22/01/2010 phi hành gia Creamer trên trạm vũ trụ quốc tế ISS sử dụng Twitter để gửi tin nhắn về trái đất

- Năm 2011 đã có 300 triệu người đăng ký sử dụng. Theo Wall Street Journal, trị giá của Twitter trong năm 2011 là 7 tỷ USD.
(Theo VTC News)

Grant Cardone chia sẻ bí quyết làm giàu từ tay trắng


Grant Cardone là tác giả của nhiều cuốn sách kinh doanh trong danh sách "best-seller book" của New York Time. Ông chia sẻ về những bí quyết "gối đầu giường" cho những ai mơ ước trở thành triệu phú.
Grant Cardone là tác giả của nhiềucuốn sách kinh doanh trong danh sách "best-seller book" của New York Time, đồng thời là nhà kinh doanh, chuyên gia bán hàng, chuyên gia tư vấn cho nhiều công ty nằm trong danh sách Fortune 500 (các công ty hàng đầu tại Mỹ). Những chia sẻ dưới đây của ông được coi là bí quyết "gối đầu giường" cho những ai mơ ước trở thành triệu phú.
Những bí quyết sau đây không chỉ cho bạn cách để tích lũy của cải cả một đời để tận hưởng khi về già mà là tạo ra hàng triệu đô la và tận hưởng chúng ngay trong quá trình lao động.
Điều 1: Quyết định trở thành một triệu phú
Trước tiên, bạn phải xác định mục tiêu cao nhất của bạn, là trở thành một triệu phú từ tay trắng.
Tôi đi từ chỗ không có gì, chỉ là ý tưởng và rất nhiều công việc khó khăn để tạo ra một gia tài và những giá trị bền vững khác.
Bước đầu tiên là thiết lập mục tiêu. Mỗi ngày trong suốt nhiều năm, tôi đều viết ra câu này: "Tôi trị giá hơn 100.000.000 đô la".
Điều 2: Thoát khỏi tư duy nghèo nàn
Thế giới này không thiếu tiền mà thiếu những người có suy nghĩ đúng đắn về nó. Để trở thành một triệu phú, bạn phải chấm dứt những tư duy nghèo nàn và tiêu cực. Nếu bạn chìm đắm trong đó, bạn không thể làm giàu.
Tôi biết rõ điều này bởi vì tôi đã từng trải qua. Tôi được nuôi dưỡng bởi một bà mẹ độc thân. Mẹ tôi đã làm tất cả mọi thứ để cho ba anh em chúng tôi được đến trường.
Tuy vậy, nhiều bài học mà bà dạy tôi mang đến cảm giác thiếu thốn và sợ hãi: "Con đừng bỏ lại thức ăn, ngoài kia còn có nhiều người chết đói", "Con đừng lãng phí bất cứ thứ gì", "Tiền không mọc trên cây con à".
Sự giàu có và trù phú không nảy sinh từ những suy nghĩ tương tự như vậy.
Điều 3: Xem việc làm giàu là một nghĩa vụ
Những người nỗ lực làm giàu từ tay trắng không chỉ vì tiền bạc mà còn vì nhu cầu được xã hội công nhận khả năng và những đóng góp của mình. Tôi luôn muốn làm giàu, nhưng tôi cũng có nhu cầu đóng góp cho xã hội tùy theo khả năng của mình.
Triệu phú không hạ mục tiêu khi gặp khó khăn, thay vào đó, họ nâng cao kỳ vọng cho chính mình bởi vì họ nhìn thấy sự khác biệt mà mình có thể đem đến cho gia đình, công ty và cộng đồng.
Điều 4: Học theo người giàu
Tôi đã nghiên cứu tất cả mọi điều về những người giàu có kể từ khi tôi 10 tuổi. Tôi đọc câu chuyện của họ và xem họ đã trải qua những gì. Họ là những cố vấn, những người thầy truyền cảm hứng cho tôi. Bạn không thể biết cách kiếm tiền từ những người không có tiền.
Có người nào đó khẳng định "Tiền sẽ không làm cho bạn hạnh phúc", hay "Tất cả những người giàu đều tham lam". Tôi chắc chắn những người đó không phải là những người giàu. Những người giàu có không hề có cách nhìn như vậy.
Vì thế, bạn cần biết người ta làm gì để tạo ra của cải và làm theo họ: Họ đọc sách gì? Họ đầu tư vào đâu? Điều gì thúc đẩy họ? Làm thế nào để họ luôn giữ được động lực làm việc?...
Điều 5: Làm việc như một người giàu
Người giàu có cách đối xử với thời gian hoàn toàn khác. Họ mua thời gian trong khi những người ít tiền hơn phải bán đi thời gian của họ.
Người giàu biết rõ thời gian có giá trị hơn tiền bạc. Do đó, họ thuê những người giỏi để làm những việc mà họ không làm được hoặc không sử dụng được thời gian hiệu quả để làm việc đó.
Người giàu luôn làm việc chăm chỉ, say mê để đạt mục tiêu, và vì thế mà họ có được vị trí như hiện nay.
Điều 6: Chuyển sự tập trung từ chi tiêu sang đầu tư
Người giàu không chi tiền vô tội vạ, họ đầu tư có tính toán. Bạn mua một căn nhà và phải trả góp. Người giàu, ngược lại, mua một tòa nhà và kiếm lời từ năm này sang năm khác. Bạn mua xe mới vì nó mang lại cho bạn sự thoải mái và phong cách. Người giàu mua xe hơi để làm ra lợi nhuận.
Điều 7: Tạo ra nhiều nguồn thu nhập
Những người giàu không bao giờ phụ thuộc vào một nguồn thu nhập duy nhất. Tôi đã kiếm được thu nhập bảy con số trong vòng nhiều năm sau khi mở công ty đầu tiên và bắt đầu đầu tư vào bất động sản.
Khi việc kinh doanh bất động sản và công ty tư vấn bắt đầu ổn định, tôi tham gia vào lĩnh vực thứ ba - phát triển kinh doanh phần mềm để giúp các nhà bán lẻgây được thiện cảm với khách hàng.
Sau hết, bạn có thể ngạc nhiên khi biết rằng những người giàu có muốn mọi người đều giàu có như họ. Một phần là để bất cứ ai cũng có tiền để mua hàng hóa và dịch vụ do họ cung cấp. Mặt khác, bản thân những người giàu đều tự nhận thấy họ không quá đặc biệt và luôn cho rằng của cải sẽ thuộc về bất cứ ai biết cố gắng và kiên trì.
Theo vef.vn

Tri ân nhân viên: Làm sao để đạt hiệu quả cao nhất?


Có nhiều phương pháp để giúp người lãnh đạo bày tỏ sự biết ơn đối với đội ngũ cộng sự nhưng nhiều khi, tiền bạc không phải là "cây gậy quyền năng" để nâng cao tinh thần cống hiến.
Khi những nhân viên trong công ty đáp ứng đủ hoặc thậm chí còn vượt trên cả sự kỳ vọng của bạn, việc chúc mừng họ là điều bắt buộc phải làm. Tuy nhiên những buổi tiệc chiêu đãi xa hoa hay những tấm bằng chứng nhận đắt tiền lại không hẳn là hữu ích cho việc thể hiện sự cảm kích của bạn đối người nhân viên đó. Mặt khác, bạn cũng không muốn các nhân viên của mình nghĩ rằng bạn làm những việc đó là do truyền thống công ty hoặc phải làm do bắt buộc.
Lòng biết ơn phải xuất phát từ sự chân thành và cũng không nên tiêu tốn quá nhiều tiền bạc. Dưới đây là một vài phương pháp giúp bạn thể hiện sự tri ân đối với những thành tích xuất sắc của nhân viên mà không làm hụt hao quá nhiều ngân quỹ hay gây nên sự giả tạo.
Thời gian làm việc linh hoạt
Một trong những yếu tố mệt mỏi nhất của công việc full-time đó chính là thời gian làm việc luôn cố định và gò bó, thậm chí cả trong những ngày nghỉ cuối tuần. Tuy nhiên đôi khi trong thời gian làm việc lại xuất hiện những việc bất ngờ mà các nhân viên cần giải quyết như đến văn phòng bác sĩ, qua ngân hàng rút tiền hay thậm chí là đến gặp giáo viên của con cái. Một số buổi gặp gỡ như vậy rất khó để xếp lịch khi một người đang làm việc theo giờ hành chính. Thời gian cho buổi gặp mặt lại phụ thuộc vào vị bác sĩ kia hay cô giáo đang dạy con họ, có thể là chỉ sắp xếp được 1 buổi mỗi tuần hoặc mỗi tháng và bất hạnh thay, thời điểm đó vẫn nằm trong lịch làm việc của họ.


Rất khó để biết chính xác thời gian cho những việc cá nhân mà nhân viên của bạn bắt buộc phải giải quyết. Vì vậy, nếu bạn tạo cho họ sự linh hoạt hơn về mặt thời gian, đó có thể là phần thưởng tuyệt vời nhất mà bạn ban tặng. Bạn không nên cho phép tất cả nhân viên đựơc hưởng "món quà" này - có được vài tiếng quý giá vắng mặt ở công ty và sau đó làm bù sau. Nếu bạn ban phát đặc ân này cho toàn bộ công ty, những cá nhân lười biếng sẽ hưởng lợi từ việc đó. Nhưng nếu chỉ có những ai đã làm việc chăm chỉ và quan tâm tới sự phát triển của doanh nghiệp được ưu đãi về lịch làm việc, sẽ chẳng có lý do gì mà họ không cống hiến tận tuỵ hơn,
Thư cảm ơn viết tay
Trong kỷ nguyên hiện đại ngày nay với tràn ngập các công cụ như thư điện tử, máy fax, skype, twitter hay facebook, chúng ta đang kết nối với phần còn lại của thế giới theo cách chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Giờ bạn không cần phải đến tận khu vực của nhân viên để nói chuyện nữa, thay vào đó, bạn chỉ đơn giản soạn nội dung trên công cụ mạng, nhấn nút send và mọi nhân viên đều nhận được. Hành động đó tuy nhanh, hiệu quả nhưng lại lạnh lùng và vô hồn. Bạn có thể gửi 2 chữ "Thank you" rất nhanh khi người nhân viên hoàn thành việc gì đó nhỏ và đơn giản.


Với những dự án lớn hơn, cả về quy mô lẫn tầm quan trọng, ngoài việc xướng danh họ tại những buổi lễ công ty, bạn nên viết những lá thư tay cảm ơn. Nghệ thuật viết thư tay giờ đang bị xem nhẹ trong cuộc sống hiện đại. Nhưng nếu bạn nhận được một phong bì thư trên mặt bàn làm việc khi đến công ty buổi sớm, mở ra và đọc được lời cảm ơn chân thành vì những đóng góp vừa qua, bạn sẽ thực sự rùng mình sung sướng và chắc chắn, nhân viên của bạn cũng sẽ cảm thấy tương tự.
Cơ hội mở rộng quan hệ
Những khoản tiền thưởng dù rất có ý nghĩa và mang thái độ tốt nhưng lại không giúp gì nhiều cho sự nghiệp sau này của các nhân viên, đặc biệt là nhân viên trẻ. Thứ khó khăn nhất trong việc xây dựng một sự nghiệp cho cá nhân đó là việc bạn cần kinh nghiệm để có được công việc mình mong muốn. Đặc biệt là những kinh nghiệm tích luỹ được từ nơi làm việc đầu tiên. Một cách hay để phá vỡ rào cản trên chính là thông qua mạng lưới quan hệ. Khi bạn đã có được vị trí cao trong công việc, hãy cân nhắc việc giới thiệu những nhân viên xuất sắc tới những nhân vật có tiếng tăm mà bạn quen biết.


Bạn không nhất thiết phải thuyết phục họ về tầm quan trọng cũng như năng lực của người nhân viên. Đó là việc của họ - một khi họ đã thể hiện được trước bạn, họ sẽ có cách bộc lộ trước những người bạn giới thiệu. Với những nhân viên đã đi theo bạn suốt cuộc hành trình sự nghiệp cho tới nay và đã có những đóng góp không biết mệt mỏi, hãy trả ơn bằng cách trở thành người bảo trợ đầy tin cậy của họ. Phần lớn mọi người đều cố gắng phát triển sự nghiệp để vươn tới sự thành đạt, và bất cự trợ giúp nào cũng luôn được thực sự trân trọng.
Những món quà ý nghĩa
Hãy nhớ rằng yếu tố then chốt để việc khen thưởng đạt hiệu quả cao đó là việc khiến những nhân viên giỏi cảm thấy sự ưu đãi khác biệt và nhắm đúng vào những điều họ mong mỏi. Nếu nhân viên là nữ giới, việc tặng họ những chiếc thẻ mua hàng giảm giá hay những chiếc vé tham dự sự kiện thời trang là một cách làm hay vì nó hướng đến đúng nhu cầu của phần lớn phái đẹp. Nếu nhân viên là nam giới và là người đàn ông yêu con cái, hãy tổ chức những buổi tiệc cho con em công nhân viên chức trong công ty, để con họ có thể vui chơi và thể hiện khả năng của mình. Hoặc đơn giản là tặng những đứa bé món quà ý nghĩa vào dịp sinh nhật chúng. Điều đó sẽ có ý nghĩa gấp ngàn lần những con số tăng lên trong tài khoản.


Để làm được những việc trên, điều cần thiết là người lãnh đạo phải thực sự có tâm với nhân viên, đồng thời phòng nhân sự phải hoạt động hiệu quả. Tìm hiểu kỹ hoàn cảnh gia đình, sở thích hay thói quen của nhân viên sẽ giúp chúng ta xây dựng được những phương pháp khen thưởng đầy hiệu quả mà lại ít chi phí.
Yếu tố cốt lõi
Tuy nhiên xét cho cùng, những buổi lễ tuyên dương hay các khoản tiền thưởng cũng là hành động không thể thiếu. Lưu ý rằng khen thưởng ai thì nên thực hiện trước đám đông vì điều đó sẽ làm họ vinh hạnh và tự hào, nhưng chê trách thì lại dừng ở phạm vi cá nhân để họ cảm thấy biết ơn vì không bị tổn hại cái tôi của mình. Nắm được những quy tắc cơ bản của hành động tri ân cũng như có tấm lòng cảm kích chân thành, người lãnh đạo sẽ luôn phát huy được tối đa nguồn lực con người trong mỗi doanh nghiệp.
(Theo TTVN/Foxbusiness)

Nhất hô, bá ứng


Ở Việt Nam, rất ít DN chú trọng đến các câu tuyên ngôn vì cho rằng chúng không đem lại lợi ích gì. Thế nhưng, hiểu đúng bản chất, mục đích, ý nghĩa, và giá trị của các câu tuyên ngôn này là hết sức cần thiết vì việc truyền thông chúng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến hình ảnh và uy tín của DN.
Đối với các doanh nghiệp (DN) nước ngoài, đặc biệt là những công ty đa quốc gia, những câu tuyên ngôn chính thức của DN về triết lý kinh doanh, sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi, văn hóa DN... có ý nghĩa hết sức quan trọng, thường được đưa lên trang web chính thức của DN, được đặt ở những nơi trang trọng tại trụ sở DN, được thường xuyên truyền thông rộng rãi cho cả bên trong lẫn bên ngoài DN. Đây là một trong những cách thức "làm PR" hiệu quả mà DN thường áp dụng để giới thiệu và nâng cao hình ảnh, uy tín của mình.
Ở Việt Nam, rất ít DN chú trọng đến các câu tuyên ngôn vì cho rằng chúng không đem lại lợi ích gì. Thế nhưng, hiểu đúng bản chất, mục đích, ý nghĩa, và giá trị của các câu tuyên ngôn này là hết sức cần thiết vì việc truyền thông chúng sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến hình ảnh và uy tín của DN.
Trước hết, nền tảng tư tưởng cao nhất của DN là triết lý kinh doanh, được hiểu là quan điểm chính thức của DN về vấn đề kinh doanh: kinh doanh để làm gì, mục đích, tôn chỉ, triết lý tồn tại và phát triển của DN.
Một triết lý kinh doanh tiến bộ, mang tính nhân văn thể hiện quan điểm coi trọng khách hàng, cộng đồng, người lao động... hơn là chỉ chăm chăm vào mục tiêu duy nhất là lợi nhuận của người chủ DN.
Thật khó hình dung một DN với triết lý kinh doanh quá thực dụng: chỉ nhấn mạnh và đề cao lợi ích của cổ đông trong các câu tuyên ngôn của mình lại có thể được khách hàng, cộng đồng, người lao động... ủng hộ để phát triển bền vững!
Sứ mệnh có thể được hiểu như nhiệm vụ lớn nhất, cao cả nhất mà DN sẽ theo đuổi và thực hiện khi nào còn tồn tại và hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh đó.
Sứ mệnh của DN thường gồm ba yếu tố quan trọng: mục đích tồn tại của DN; lĩnh vực hay ngành nghề hoạt động của DN và các giá trị DN muốn mang lại cho khách hàng, cộng đồng.
Câu tuyên ngôn sứ mệnh nên ngắn gọn, rõ ràng, dễ nhớ, mạnh mẽ, mang tính thôi thúc và gây được cảm xúc cho người nghe, người đọc. Quan trọng hơn, nên đặt trọng tâm vào việc "cho" hơn là "nhận", tức thể hiện sứ mệnh phục vụ và thỏa mãn nhu cầu khách hàng hơn là chỉ thực hiện sứ mệnh kiếm tiền.
Một câu tuyên ngôn sứ mệnh tiến bộ sẽ luôn hướng về thị trường hoặc khách hàng thay vì chỉ hướng về lợi ích cổ đông.
Lẽ đương nhiên, một sứ mệnh mang tính "cống hiến" nếu được thực hiện tốt sẽ được đền đáp xứng đáng, và phần "nhận" sẽ là hệ quả tất yếu từ phần "cho" của DN, hay nói cách khác đó chính là lợi nhuận.
Tầm nhìn hay viễn cảnh là bức tranh tương lai của DN, là mục tiêu lâu dài mà DN muốn hướng tới. Tầm nhìn là để trả lời câu hỏi: DN muốn trở thành gì, sẽ được nhìn nhận như thế nào trong tương lai?
Tầm nhìn có thể xa đến 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn, có thể nêu hoặc không nêu mốc thời gian với hàm ý lâu dài. Khác với sứ mệnh - thường hướng về khách hàng, tầm nhìn là ước mơ, mong muốn, khát vọng của chính DN và những người chủ DN.
Nếu sứ mệnh là nhiệm vụ lâu dài DN phải làm, thì tầm nhìn hay viễn cảnh là mục tiêu lâu dài DN cần phải đạt. Sự khác nhau giữa sứ mệnh và tầm nhìn còn ở chỗ, một bên là công việc phải làm từ hiện tại, còn bên kia là ước vọng phải đạt trong tương lai.
Đây cũng là điểm nhiều DN Việt vẫn còn mơ hồ nên thường đưa ra những câu tuyên ngôn về tầm nhìn, sứ mệnh lẫn lộn với nhau.
Tương tự như sứ mệnh, các câu tuyên ngôn về tầm nhìn cũng nên ngắn gọn, rõ ràng, dễ nhớ, mạnh mẽ, thôi thúc và khơi gợi quyết tâm trong toàn thể cán bộ, nhân viên. Đó phải là viễn cảnh tốt đẹp, đầy tự hào để thúc giục toàn thể cán bộ, nhân viên trong DN cùng hướng tới.
Giá trị cốt lõi là các giá trị DN thực sự coi trọng và quyết tâm theo đuổi. Thông thường, một giá trị được xem là cốt lõi khi: DN coi nó có tầm quan trọng đặc biệt như một yếu tố sống còn; nó có giá trị vĩnh hằng đối với DN; DN vẫn theo đuổi và thực hiện nó kể cả khi vì thế mà gặp bất lợi trong cạnh tranh; toàn bộ hệ thống các tổ chức, đơn vị đã, đang và sẽ trực thuộc DN (chi nhánh, công ty con...) đều coi trọng và theo đuổi những giá trị này.
Giá trị cốt lõi của DN cũng tương tự như hệ giá trị của một con người. Biết được hệ giá trị của một con người sẽ có thể hiểu được tính cách, chuẩn mực sống, quan niệm sống của người đó.
Thông qua các giá trị cốt lõi của một DN người ta cũng có thể đánh giá được những nét cơ bản trong cách hành xử của DN. Thông thường, trên nền tảng các giá trị cốt lõi, DN sẽ xây dựng văn hóa DN, được chuẩn hóa bằng các chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực hành vi.
Ngoài triết lý kinh doanh, sứ mệnh, tầm nhìn, giá trị cốt lõi, nhiều DN còn công bố một số câu tuyên ngôn khác về tín điều, văn hóa, niềm tin, nguyên tắc...
Nhưng điều quan trọng là các câu tuyên ngôn này không nên là những lời tuyên bố sáo rỗng, chỉ thể hiện được phần "xác" qua hình thức phông chữ, màu sắc, nơi bố trí..., mà chúng phải được thổi "hồn" để tạo cảm xúc và khơi gợi cả niềm tin lẫn quyết tâm.
Những câu tuyên ngôn có "hồn" không chỉ là kim chỉ nam hành động cho DN, mà còn là lời hứa thiêng liêng của DN đối với khách hàng, cộng đồng và chính người lao động trong DN.
(Theo Doanh nhân)

Marketing và lối ra trong khủng hoảng


Trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái và khủng hoảng, danh mục cắt giảm đầu tiên mà doanh nghiệp thường nghĩ đến là MarketinG...
Trong bối cảnh nền kinh tế suy thoái và khủng hoảng, danh mục cắt giảm đầu tiên mà doanh nghiệp thường nghĩ đến là Marketing (Tiếp thị). Vì mọi người thường nghĩ rằng, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, người tiêu dùng nào cũng sẽ “thắt lưng buộc bụng” và chẳng mấy lưu tâm đến những sự kiện quảng bá hào nhoáng nữa. Lúc này, Marketing sẽ là một thứ “xa xỉ phẩm”, chỉ gây ra tốn kém chứ không đem lại bất cứ hiệu quả nào. Thực tế có phải như vậy?
“Đừng xem chuyện suy thoái kinh tế chỉ là một giai đoạn tạm thời, sẽ nhanh chóng qua đi mà phải nhìn nhận nó như là một thực tế hiển hiện và bình thường. Do vậy, hãy thay đổi cách làm Marketing sao cho phù hợp với thực tế đó, chứ đừng bao giờ chỉ cắt giảm và ngồi đợi suy thoái qua đi.”
Philip Kotler -
Tư duy lại vai trò của Marketing
Peter Drucker, người được xem là “cha đẻ”của quản trị kinh doanh hiện đại từng nói rằng: “Mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động kinh doanh là tạo ra khách hàng. Và chỉ có hai chức năng trong doanh nghiệp có thể làm được điều này, đó là Marketing và Sáng tạo (Innovation)”.
Có thể thấy rằng, Marketing không phải là một bộ phận “chỉ biết tiêu tiền” như người ta vẫn nghĩ. Nếu như các bộ phận khác trong tổ chức chủ yếu tập trung vào việc tạo ra doanh thu và lợi nhuận bằng cách lôi kéo, chăm sóc, duy trì những khách hàng hiện tại; thì nhiệm vụ của Marketing lại là tạo ra khách hàng mới bằng cách “đánh thức” những nhu cầu mới nằm ngay trong tiềm thức của khách hàng nhưng họ lại chưa từng hình dung đến nó cho đến khi có tác động của Marketing. Đó là lý do tại sao Peter Drucker cho rằng Marketing xứng đáng được xếp vào danh sách những bộ phận tạo ra lợi nhuận chứ không phải là bộ phận chi phí.
Tuy nhiên, trong bối cảnh của khủng hoảng kinh tế ngày càng trở nên căng thẳng và đặt áp lực lên vai doanh nghiệp mỗi ngày, rất nhiều tổ chức đã không thể giữ được tầm nhìn dài hạn đó. Ngay cả những thương hiệu tầm cỡ thế giới như GM, Sears, Kodak, AT&T… cũng  phải đối diện với việc đánh mất vị thế của mình do không thể tìm thấy một lối ra phù hợp. Tâm lý chung của những người làm marketing là cảm thấy bất lực và bối rối khi những “vũ khí” đã từng mang lại hiệu quả tột đỉnh trước đây bỗng dưng trở nên vô hiệu.
Phải chăng, đó chỉ là khó khăn tạm thời hay là hệ quả của mức độ cạnh tranh đang ngày càng khốc liệt? Nên tạm thời “án binh bất động” đợi suy thoái qua đi hay đã đến lúc “trở mình” để thích nghi? Nên tiếp tục đầu tư để duy trì hay cắt giảm để tiết kiệm chi phí? Hàng loạt câu hỏi khiến những nhà lãnh đạo cảm thấy mình như rơi vào một “mê hồn trận” mà chẳng biết lối ra nào sẽ dẫn đến một chiến lược marketing phù hợp.
Lối ra nào trong giai đoạn khủng hoảng?
Trong lần tái bản cuốn “Quản trị Marketing” – cuốn sách được xem là “gối đầu giường” của dân Marketing, cha đẻ marketing hiện đại Philip Kotler cũng đã phải cập nhật lại lý thuyết của mình cho phù hợp với bối cảnh mới. Ông cho rằng: “Đừng xem chuyện suy thoái kinh tế chỉ là một giai đoạn tạm thời sẽ nhanh chóng qua đi mà phải nhìn nhận nó như là một thực tế hiển hiện và bình thường. Do vậy, hãy thay đổi cách làm Marketing sao cho phù hợp với thực tế đó, chứ đừng bao giờ chỉ cắt giảm và ngồi đợi suy thoái qua đi.”  
Lâu nay, suy nghĩ về Marketing thường được “đóng khung” trong những lý thuyết đã trở thành kinh điển như 4P, 3C...; nhưng thực chất, xã hội và khách hàng hiện nay đã thay đổi rất nhiều. Để tồn tại và phát triển, không còn cách nào khác là phải nhận thức rõ sự thay đổi này, để có thể đưa ra những cách nghĩ mới, cách làm mới thật sự hiệu quả.
Ví dụ, khi quảng cáo trên truyền hình không tạo được hiệu ứng tốt nữa, chúng ta thường vội vã kết luận rằng marketing không còn hiệu quả trong giai đoạn suy thoái rồi cắt giảm ngân sách. Trong khi đó, tại sao chúng ta không thử chuyển sang các giải pháp truyền thông số/truyền thông xã hội mới như Blog, Webcast, Videocast, Postcast … để giải quyết vấn đề với chi phí thấp hơn rất nhiều, mà lại phù hợp với xu thế phát triển của xã hội?
Bên cạnh đó, vì Marketing giữ vai trò thiết yếu trong việc tạo ra doanh thu tương lai cho cả tổ chức, nên không thể xem đó chỉ là một chức năng mang tính chuyên môn giao cho một bộ phận mà mà phải là công việc mang tính chiến lược, cần sự suy nghĩ và góp sức của cả tổ chức. Nói cách khác, một chiến lược marketing hiệu quả chỉ được tạo ra khi quy trình hoạch định chiến lược đó có sự tham gia của các cấp lãnh đạo và các bộ phận có liên quan trong việc thu thập thông tin và xác định những hướng đi tiềm năng. Đồng thời, đối tượng mà nó nhắm tới không chỉ là khách hàng mà gồm cả những ai có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như các nhà phân phối, nhà cung cấp, nhân viên, cổ đông và cộng đồng.
Và như vậy, Marketing phải luôn là trung tâm của mọi sự thay đổi và bao quát được những vấn đề thực tế mới. Nếu thất bại trong việc chỉ ra được những thách thức mà doanh nghiệp sẽ phải đối mặt, Marketing sẽ trở nên vô dụng, thậm chí ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh. Nhưng nếu được thay đổi hiệu quả, nó sẽ là sợi dây vô hình gắn kết các mối tương quan trong và ngoài tổ chức. Điều này sẽ mang lại một lợi thế vô cùng lớn cho doanh nghiệp. Chính vì thế mà “Cha đẻ”của quản trị hiện đại đã một lần nữa khẳng định: “Marketing đúng nghĩa sẽ là nơi phải tạo được khả năng bao phủ toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”
(NGUỒN: TRƯỜNG DOANH NHÂN PACE)