Friday, August 19, 2011

5 bước xây dựng kế hoạch marketing

Kế hoạch kinh doanh là bản phát thảo toàn diện về hình ảnh và hoạt động của doanh nghiệp, trong khi đó một kế hoạch marketing, nếu đứng độc lập, sẽ tập trung vào một chức năng duy nhất: marketing. Khi xây dựng kế hoạch marketing, bạn sẽ cần phải kết nối mục tiêu, chiến lược và chiến thuật để tạo thành một kế hoạch hành động chi tiết.
  
Trong thực tế, không có một khuôn mẫu chuẩn mực nào cho quá trình phát triển một kế hoạch marketing. Chính vì vậy tôi đã đưa ra quy trình gồm 5 bước để xây dựng một kế hoạch marketing hoàn chỉnh.

Bước 1: hướng nội

Đầu tiên, hãy viết xuống tất cả các điểm mạnh, điểm yếu và mục tiêu. Hãy cố gắng viết tất cả những gì bạn có thể nghĩ tới. Đừng chỉnh sửa hay bỏ mất yếu tố nào.

Sau đó hãy xác định tầm quan trọng của từng yếu tố được nhắc tới, phân loại chúng theo thứ tự ưu tiên từ quan trọng nhất tới kém quan trọng nhất. Điều này cần được thảo luận và bàn bạc ở cấp độ quản lý và ban giám đốc.

Bước 2: hướng ngoại

Bước kế tiếp cần làm là liệt kê tất cả cơ hội và mối đe dọa đối với doanh nghiệp. Đây là những yếu tố mang tính chất khách quan bên ngoài không thể kiểm soát nhưng bạn nên cố gắng đưa ra được nhiều giả định càng chính xác càng tốt. Các yếu tố cơ hội có thể là việc tìm ra các thị trường mới, phát minh ra sản phẩm mới hay các xu hướng có lợi cho doanh nghiệp. Nguy cơ có thể đến từ sự cạnh tranh hay những tiến bộ về công nghệ mà doanh nghiệp không thể theo kịp.

Kế tiếp hãy vẽ ra hình ảnh thị trường mục tiêu và chân dung của khách hàng tiềm năng. Hãy cố gắng khắc họa càng nhiều chi tiết có những nét tương đồng càng tốt. Cần đặt mình vào vị trí của họ và xem xét liệu họ thực sự cần những gì, họ hay sử dụng phương tiện truyền thông nào, thông điệp nào sẽ đánh trúng tâm lý của họ…


Bước 3: tập trung vào chiến lược

Tới đây bạn có thể tập hợp nội dung đã làm ở 2 bước trên. Tìm ra điểm giao thoa giữa năng lực hiện tại của doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường. Sau đó chọn lọc lại một lần nữa thị trường và khách hàng mục tiêu.
Ví dụ một nhà hàng chuyên phục vụ các món ăn có lợi cho sức khỏe sẽ hướng tới những thực khách quan tâm tới chế độ ăn uống và có mức thu nhập cao. Do đó những thực khách thường xuyên sử dụng thức ăn nhanh như hamburger hay pizza sẽ không nằm trong nhóm thực khách mục tiêu của nhà hàng này.

Bước này sẽ giúp bạn tạo ra được chiến lược: tập trung vào khả năng và năng lực cốt lõi của doanh nghiệp và phát triển những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn khách hàng nhất.

Bước 4: xác lập các chỉ số có thể đo lường được

Mục tiêu của bước này là xác lập các chỉ số đo lường cụ thể. Những chỉ số này có thể bao gồm dự báo doanh thu, dự báo chi phí và các chỉ số không liên quan tới tài chính để theo dõi tiến độ phát triển như: số lượng bài báo, số lượng bài viết trên blog, số lượng khách hàng đã truy cập vào trang web, số lượng cuộc gọi, số lượng bài thuyết trình, số lượng bản đề xuất và báo giá đã gửi…

Bước 5: xem lại và hiệu chỉnh

Cũng giống như kế hoạch kinh doanh, kế hoạch marketing cũng cần được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thị trường và khả năng kinh doanh hiện tại.

Entrepreneur / Phạm Vũ Hoàng Quân

Khuếch trương hiệu quả một đại sứ thương hiệu

Mời một người có sức ảnh hưởng nào đó làm đại diện để quảng bá thương hiệu công ty, sản phẩm… không còn là chuyện mới, nhưng không phải công ty nào cũng có một chiến lược song hành cùng đại sứ thương hiệu sao cho đáng đồng tiền bát gạo đã bỏ ra cho Brand Ambassador.
Ai có thể là Brand Ambassador?
 
Trước hết, khái niệm về đại sứ thương hiệu cần được hiểu cho rõ là bộ mặt đại diện của thương hiệu, song hành cùng sự phát triển của thương hiệu trong một khoảng thời gian nào đó. Nhiều người hay nhầm lẫn một gương mặt quảng cáo cho sản phẩm, thương hiệu chính là “đại sứ thương hiệu”, điều này không chính xác vì họ chỉ được mời để chụp ảnh hay làm phim quảng cáo cho sản phẩm đó một lần rồi đường ai nấy đi, chứ không hề có một cam kết, ràng buộc nào về việc đồng hành phát triển thương hiệu của công ty đối tác.
 
Thông thường, nói đến Đại sứ thương hiệu người ta thường nghĩ ngay đến những người của công chúng như ca sĩ, diễn viên, vận động viên thể thao…, tuy nhiên chính những người trong công ty cũng có thể làm đại sứ thương hiệu. Điển hình nhất là CEO, sáng lập viên của những tập đoàn lớn, chẳng hạn như Apple với ông chủ Steve Job – người có thể làm cho các fan hâm mộ cắm trại qua đêm để đợi đến giờ ông đăng đàn diễn thuyết, Bill Gates với danh hiệu người giàu nhất thế giới và tên tuổi đã gắn liền với thương hiệu Microsoft, hay như ở Việt Nam có những ông Đặng Lê Nguyên Vũ (Trung Nguyên), Đoàn Nguyên Đức (Hoàng Anh Gia Lai)… nhắc đến tên tuổi thì người ta nghĩ ngay đến doanh nghiệp mà họ gắn bó.
 
Hồ Ngọc Hà thành công trong vai trò đại diện hình ảnh của Sunsilk
Hồ Ngọc Hà thành công trong vai trò đại diện hình ảnh của Sunsilk
 
Tuy nhiên số người mà tên tuổi cá nhân có tầm ảnh hưởng sâu rộng như vậy không nhiều, cho nên người ta hay tìm cách gắn thương hiệu của mình với những người đã nổi tiếng để sản phẩm theo đó “nương gió mà lên”, đặc biệt là những thương hiệu mới ra đời, cần sự bảo chứng của những tên tuổi có uy tín.
 
Lựa chọn Ambassador phù hợp cho thương hiệu
 
Để lựa chọn đại sứ phù hợp cho thương hiệu của mình, trước hết người làm thương hiệu phải phác họa được chân dung và tính cách thương hiệu của mình nhằm tìm ra một đại sứ có tố chất phù hợp nhất với nó. Chẳng hạn Sunsilk chọn Hồ Ngọc Hà cho chiến dịch tái định vị hình ảnh “Sống là không chờ đợi” bởi vì Hồ Ngọc Hà là một cô gái đại diện cho những người trẻ bây giờ: hiện đại, quyết đoán, dám theo đuổi ước mơ của mình còn Ngô Thanh Vân được chọn vào cương vị đại sứ của dòng máy ảnh IXUS vì họ muốn khẳng định một lần nữa hình ảnh “nóng bỏng, thời trang, thông minh, hiện đại và uy tín” của dòng máy ảnh IXUS – theo lời người đại diện của hãng.
 
Người làm thương hiệu cũng cần xem xét đối tượng khách hàng mục tiêu của mình, xem ai là người mà họ ngưỡng mộ, có thể gây ảnh hưởng đến họ nhằm chọn mặt gởi vàng cho một đại sứ thương hiệu phù hợp. Một chàng/nàng ca sĩ trẻ có thể rất được ưa thích trong giới teen, bạn có thể mời họ làm đại sứ cho sản phẩm dành cho giới trẻ, nhưng với một loại thuốc dành cho người trung niên thì có lẽ những diễn viên hài hay ca sĩ có tuổi mới là phù hợp.
 
Có những thương hiệu chọn những người đã rất nổi tiếng, như vậy thương hiệu của họ cũng được đông đảo người hâm mộ chú ý, tuy nhiên đi liền với việc đó thì số tiền chi cho đại sứ cũng rất cao. Một số thương hiệu nhỏ hơn chọn cách thức cùng song hành xây dựng thương hiệu cùng một người chưa mấy nổi tiếng mà họ nhận định sẽ tỏa sáng. Chẳng hạn như khi game RAN Online chọn ca sĩ Minh Hằng làm đại sứ (RAN Idol), Minh Hằng chỉ mới được biết đến với vai trò diễn viên qua vài ba bộ phim, nhưng sau một thời gian, với chiến lược song hành cùng nhau quảng bá, tên tuổi Minh Hằng đã vươn rất xa hơn bất kỳ ca sĩ teen nào lúc đó, việc này làm cho RAN Online cũng được đưa lên đòn bẩy, lúc này các thương hiệu game khác bắt đầu tỏ ra tiếc nuối khi trước đó họ đã cân nhắc những tên tuổi ca sĩ teen khác nổi tiếng hơn thay vì đầu tư cho ngôi sao mới nổi này.
Minh Hằng làm RAN Idol
Minh Hằng làm RAN Idol
 
Một số thương hiệu lại chọn đại sứ thương hiệu chính là những người bình thường trong cộng đồng thông qua các cuộc tuyển chọn. Việc này cũng giúp ích ở chỗ chúng tạo ra một cái cớ để truyền thông rộng rãi, và có thể tạo được một cơn sốt marketing truyền miệng trong cộng đồng những người quan tâm đến cuộc thi. Yamaha khi ra mắt dòng xe Cuxi đã có một cuộc thi để tuyển chọn các cô gái trẻ, có phong cách và có tầm ảnh hưởng nhất định trên Internet làm đại diện hình ảnh cho dòng xe này, ngoài một số ưu đãi, đặc biệt các cô sẽ được hãng cho “mượn” xe Cuxi để đi trong vòng một thời gian dài nhằm quảng bá hình ảnh cho Yamaha Cuxi và tạo ra một trào lưu bắt chước đi xe Cuxi trong giới trẻ. Tiếc là dòng xe này đã không thành công như mong đợi nhưng cách tuyển chọn “đại sứ quần chúng” như Yamaha là đáng để tham khảo và học hỏi.
 
Chỉ số ROI kế hoạch sử dụng Ambassador
ROI (Return on Investment hay Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư) là một tiêu chí thường gặp trong tất cả các bài toán kinh tế, và việc chọn đại sứ thương hiệu cũng không nên nằm ngoại lệ. Nhiều người làm thương hiệu cảm thấy mơ hồ về hiệu quả khi đầu tư cho một Brand Ambassador. Họ nhận thấy bằng cảm tính, rằng bỏ tiền ra cho một người nổi tiếng, thì tên tuổi của thương hiệu sẽ theo đó nổi tiếng theo, nhưng nổi tiếng ở mức độ nào, nó có được quy về những con số cụ thể về tỷ lệ nhận biết thương hiệu hay doanh số hay không thì nhiều người không trả lời được.
 
Một đại sứ thương hiệu có thể làm cho bạn nhiều việc hơn là đơn thuần chỉ đóng vài ba phim quảng cáo, chụp một vài bức ảnh cùng sản phẩm hay một buổi họp báo công bố người làm đại sứ thương hiệu. Nhất là trong thời đại Social Media phát triển rộng rãi, thông qua Internet bạn có thể làm cho đông đảo khán giả biết đến việc họ làm đại sứ cho bạn. Đó có thể là một cuộc thi tổ chức trên mạng nơi người thắng cuộc có thể ăn tối/song ca/đi mua sắm cùng thần tượng chính là đại sứ thương hiệu của bạn, có thể là một trang fan page hay blog của đại sứ – nơi kết nối họ và các fan và tất nhiên không thể thiếu hình ảnh của thương hiệu trong đó, hay đơn giản nhất là việc rò rỉ một bộ ảnh mà bạn đã khéo léo “cài cắm” sản phẩm hay thông điệp của mình vào. Nếu chịu khó nghĩ ngợi và khai phá, sẽ có nhiều cách để làm hơn là cho đại sứ cầm trên tay sản phẩm và nói:”Sản phẩm X – tốt nhất cho tất cả mọi người”.
 
Bạn có thể đo lường được hiệu quả nhận biết thương hiệu nhờ vị đại sứ của mình thông qua các 
, cụm từ tìm kiếm trong công cụ đo lường lượng truy cập và độc giả của website. Bạn cũng có thể quan sát và đánh giá hiệu quả của đại sứ thương hiệu thông qua sự đi lên của doanh số trong những ngày song hành cùng đại sứ thương hiệu của mình, tất nhiên đã trừ đi các chênh lệch do các hoạt động marketing và bán hàng khác đem lại.
 
Nhiều người đã sử dụng đại sứ thương hiệu than phiền rằng đại sứ đó chẳng nỗ lực gì trong việc xây dựng thương hiệu của họ, nhưng nỗ lực như thế nào, làm những gì là hợp ý họ, sao không định ra các tiêu chí đó ngay từ đầu và thống nhất giữa hai bên? Vị đại sứ của chúng ta có thể quá bận rộn hoặc thiếu động lực, thiếu sáng tạo trong việc nghĩ ra cách làm sao để tốt cho thương hiệu mà họ đã ký hợp đồng làm gương mặt đại diện, nhưng chúng ta là người làm marketing cho thương hiệu của mình, chúng ta cần thiết phải nghĩ thay cho họ.
 
Hãy tận dụng đại sứ thương hiệu ở tất cả các kênh sao cho đáng đồng tiền bát gạo bỏ ra cho họ: brochure, leaflet, in trên sản phẩm, TVC, printAd, xuất hiện trong buổi ra mắt sản phẩm, giao lưu cùng người hâm mộ, báo chí, diễn đàn, website công ty… Tốt hơn là làm rõ trong hợp đồng, bạn cần họ cho những hoạt động gì, cần xuất hiện bao nhiêu buổi trong năm, làm những gì trong đó, quy định rõ những chi phí như phụ cấp đi lại, ăn ở sẽ tính như thế nào… Nếu chưa có kế hoạch cụ thể thì cũng có thể áng chừng, còn không, khi hợp đồng giữa hai bên quá chung chung, sau này nảy sinh những hoạt động cần sự có mặt của họ, bạn sẽ có thể nhận được những lời thoái thác từ họ hoặc phải trả thêm các chi phí phát sinh cho việc đó.
 
Có thể sẽ có những rủi ro không mong muốn xảy đến trong quá trình họ làm đại sứ cho thương hiệu của bạn, chẳng hạn như đại sứ của chúng ta bị dính vào một scandal nào đó, con đường sự nghiệp của họ bị đi xuống, hoặc họ vô tình/cố ý vi phạm các điều khoản trong hợp đồng. Bạn có thể gặp xui như trường hợp Kim Nam Joo bị “tẩy chay” khi phát hiện đã “lột xác” từ con vịt trở thành thiên nga nhờ phẫu thuật thẩm mỹ, khiến cho hãng LG phải hủy hợp đồng làm đại sứ hình ảnh của cô, hay như cầu thủ Văn Quyến bị Pepsi từ chối hợp tác làm đại diện hình ảnh vì những bê bối của mình. Nhưng nhiều khi scandal lại là may mắn, chẳng hạn như việc Hồ Ngọc Hà có bầu không những làm sự nghiệp của cô đi xuống mà cô lại càng lên như diều gặp gió và những thương hiệu như Sunsilk mà cô đang đại diện cũng hưởng lợi từ việc này. Tuy nhiên cũng không có mấy ai can đảm đem thương hiệu của mình đánh cược vào một vụ thăng trầm của người nổi tiếng, nên hầu hết đều chọn những ràng buộc an toàn cho mình. Bạn hãy quy định rõ trong hợp đồng, rằng trong thời gian làm đại sứ thương hiệu, vị đại sứ của chúng ta không để phạm những sai lầm như làm đại diện hình ảnh cho một đối thủ cạnh tranh, sử dụng hay gắn hình ảnh với một sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trước công chúng hay trên báo chí, sử dụng chất kích thích, bê bối trong quan hệ tình ái, tình dục, phát ngôn thiếu cẩn trọng gây mất lòng dư luận…
 
Một số thương hiệu còn kỹ lưỡng hơn nữa khi quy định rằng đại sứ hình ảnh không được làm đại diện cho một đối thủ cạnh tranh cùng ngành nào trong vòng 1 năm sau khi kết thúc hợp đồng
 

Thursday, August 18, 2011

Bạn đang phủ nhận cái gì?


Image
Một ngày, tôi ăn trưa với một người bạn thân. Mặc dù rất thích gặp gỡ người bạn này và đồ ăn cũng rất ngon, nhưng tôi cảm thấy năng lượng của tôi lại bị tiêu hao một ít.

Khi nghĩ về điều đó, tôi thấy người bạn của tôi thật thông minh khi chẳng phủ nhận bất kì cuốn sách, khái niệm, vị quân sư, phương pháp tự giúp đỡ hoặc phương pháp chữa bênh nào mà anh đã đọc hoặc nghe nói về nó.

Anh ấy không phủ nhận trực tiếp hoặc phê phán một cách có chủ ý. Anh chân thành mong muốn một điều gì đó sẽ có hiệu quả trong cuộc sống của anh. Nhưng anh đã vô tình không thừa nhận tất cả mọi thứ diễn ra, theo cách của anh.

Điểm thứ nhất là, tôi đã kể cho anh nghe về một vị thầy tinh thần mà tôi đã là học trò hơn hai thập kỷ trước đây. Tôi nói với anh rằng người ta nói, “Thầy của bạn rõ ràng là đã giác ngộ. Ông ta đã chứng tỏ điều đó.”

Anh bạn tôi cắt ngang mà nói rằng, “Tôi chắc chắn rằng nhiều người đã gặp vị thầy này và không nghĩ rằng ông ta thông minh hơn bất kỳ cái túi giấy nào.”

Vâng, bạn của tôi nói đúng.

Nhưng bạn của tôi cũng chẳng hạnh phúc gì.

Tôi nghĩ rằng, ở đây có một bài học. Khi chúng ta bác bỏ những con người hay những ý tưởng vì toàn thế giới này không đồng ý với họ, chúng ta được cho là đúng. Nhưng chúng ta cũng nhận được một cái gì đó bên trong trống rỗng. Bằng cách không thừa nhận những gì có hiệu quả, chúng ta cũng đã không thừa nhận sự tăng trưởng của chúng ta. Chúng ta không thừa nhận những gì có thể xảy ra.

Sẽ chẳng có chuyện gì nếu cuốn sách mà bạn đọc và yêu quý cũng được người khác yêu quý; nếu người thầy mà bạn ngưỡng mộ; nếu một phương pháp chữa bệnh có hiệu quả đối với bạn nhưng lại không có hiệu quả đối với người khác.

Quan trọng là với bạn. Hạnh phúc của bạn. Sức khỏe của bạn. Việc chữa bệnh của bạn. Sự giàu có của bạn.
Sự thật là, không phương pháp nào có hiệu quả đối với tất cả mọi người. Không có giáo viên nào đúng với tất cả mọi người. Không có cuốn sách nào truyền cảm hứng cho tất cả mọi người.

Tất cả đều xuất phát từ bên trong. Bạn là người đầu tiên và người cuối cùng có thẩm quyền đối với cuộc sống của bạn.

Thay vì không thừa nhận những gì có thể xảy ra để bạn có thể đúng, thì bạn có thể chấp nhận những gì sao cho bạn có thể phát triển?

Không thừa nhận thường là một cách để làm chệch hướng các thông điệp. Đó là một cơ chế tự vệ. Nếu bạn không thừa nhận một cuốn sách, ý tưởng, hoặc bằng phương pháp mà người ta cung cấp cho bạn, bạn sẽ đúng thôi – và cứ đúng dù bạn đang ở đâu.

Tiến sĩ Richard Gillett, khi viết cuốn sách tuyệt vời của mình, cuốn Change Your Mind, Change Your World đã tuyên bố, “Thật đáng ngạc nhiên, bác bỏ là chỉ báo đáng tin cậy nhất của một hệ thống niềm tin không lộ diện. Thường thì cách duy nhất để những niềm tin được ngụy trang tự bộc lộ là thông qua những khoảnh khắc đánh giá hoặc bác bỏ cảm xúc.”

Tất cả những người thành công mà tôi biết đều đã chấp nhận đưa những công cụ mới vào cuộc sống của họ trong những năm qua, đã đầu tư hàng nghìn đô la cho phát triển cá nhân và tự học. và họ không bao giờ hối tiếc về chuyện đó.

Điểm mấu chốt là không bác bỏ, không phủ nhận, mà là lĩnh hội.
Joe Vitale – trích trong Tác nhân thu hút

Can đảm: Nền tảng trở thành người chủ giỏi

Có rất nhiều tiêu chuẩn được đặt ra dành cho những người đứng mũi chịu sào trong mỗi công việc, nhưng có một tiêu chí mà hiếm khi được nhắc đến. Nhưng thật nực cười đó lại là tiêu chí quan trọng nhất bởi nó là nền tảng cho những tiêu chí tiếp theo. Đó là lòng can đảm.

Tiêu chí quan trọng đầu tiên đó là lòng can đảm.

Chúng tôi muốn nói điều này có nghĩa không chỉ là lòng can đảm dám đưa ra những quyết định khó khăn hay làm những công việc đầy thách thức, chẳng hạn như đưa ra những lời nhận xét không hay, từ chối đề nghị thăng chức cho một ai đó đã hoàn thành công việc nhưng vẫn chưa thực sự tốt, bỏ đi những chương trình quen thuộc nhưng không thành công, hay thậm chí sa thải nhân viên khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái.

Chúng tôi muốn nói tất cả những hành động kể trên và những hành động tương tự đều cần lòng can đảm, nhưng chúng tôi cũng muốn nói đến những điều thậm chí còn khó hơn. Đó là: rất cần thiết phải biết nhìn nhận bản thân mình theo cách mà người khác nhìn vào chúng ta, dù có khi cách nhìn nhận của người khác không giống với cách của chúng ta. Những người khác có thể không coi chúng ta là một người chủ có năng lực, đầy thiện chí như chúng ta nghĩ. Vì vậy, khi phát hiện ra và phải đón nhận điều này đòi hỏi rất nhiều lòng can đảm.

Chúng ta biết những người chủ có tâm có tài thường là những người phải thức hàng đêm để hoàn thành những dự án quan trọng. Mặc dù công việc không đòi hỏi sự có mặt của bà chủ, nhưng bà ấy vẫn đến và ở lại cùng nhân viên đến tận khuya như một cách để thể hiện sự san sẻ gánh nặng và trân trọng, cảm kích cống hiến của nhân viên cũng như để cổ vũ động viên họ. Mãi đến sau này bà ấy mới biết rằng những nhân viên phải làm việc tăng ca ban đêm không hề thích những việc bà chủ đã làm. Thay vì nghĩ sự có mặt của bà chủ thể hiện sự động viên ủng hộ dành cho mình, thì những người nhân viên đó lại nghĩ bà chủ không hoàn toàn tin tưởng họ có thể hoàn thành công việc đúng thời hạn.




Ảnh minh họa 
Vì vậy mà sự có mặt của bà ấy đã vô tình làm xấu đi mối quan hệ gắn kết giữa nhân viên và chủ, cũng như đi ngược lại hoàn toàn mong muốn và ý tốt ban đầu của người chủ. Bà ấy chỉ phát hiện ra điều này khi vô tình hỏi.

Bao nhiêu người trong số chúng ta vô tình và sai lầm khi có ý nghĩ rằng người khác nghĩ về mình đúng như mình nghĩ về bản thân?

Một ông giám đốc nọ thì nghĩ mình là người điều hành, phân công công việc hiệu quả, nhưng trong thực tế ông ấy đang giao phó quá nhiều việc cho nhân viên. Và mọi người thì coi ông ta là một  giám đốc quá ư chi li, độc đoán và hống hách. Khi biết được điều này, ông ấy đã rất bất ngờ và cảm thấy bị tổn thương, và cũng chính điều này đã buộc ông ta phải suy nghĩ và xem xét lại mối quan hệ của mình với các nhân viên. Tuy nhiên, chúng tôi biết có những người khác lại nghĩ ông ấy đã truyền đạt một cách rất rõ là ông thực sự quan tâm đến mọi người và công việc của tập thể mà ông đang dẫn dắt. Nhưng rất nhiều người trong số nhân viên lại nghĩ ông ấy chỉ quan tâm đến bản thân và sự nghiệp của ông ta.

Để hiểu được tại sao lòng can đảm rất quan trọng, hãy thử tượng tượng xem bạn làm gì khi là một người chủ.

Để hoàn thành trách nhiệm đối với công việc của người khác, bạn phải nỗ lực thật nhiều để chiếm được cảm tình và tạo được ảnh hưởng với họ. Bạn cố gắng tạo nên sự khác biệt trong từng việc họ làm, trong cách họ suy nghĩ và cảm nhận, điều này sẽ giúp thay đổi hành vi của họ.

Có một vài cách giúp bạn làm được điều này ngoại trừ ép buộc "Làm việc này đi hoặc là tôi sẽ sa thải anh".

Tất cả mọi cách để chiếm được lòng tin tạo ảnh hưởng đều bắt đầu từ lòng tin. Người ta phải thấy sẵn lòng thoải mái lắng nghe và làm theo những gì bạn nói, nhưng thái độ ấy sẵn sàng, đầy thiện chí ấy chỉ có khi người ta thực sự tin tưởng vào bạn.

Những người làm việc với bạn, nhân viên cấp dưới, đồng nghiệp, hay cấp trên có tin tưởng bạn không? Bằng cách phân tách niềm tin thành hai phần riêng biệt, chúng ta có thể đặt ra cùng một câu hỏi tương tự nhưng theo một cách hữu ích hơn:

- Mọi người có tin là bạn có tài năng, có tin rằng bạn luôn biết những gì cần phải làm và làm như thế nào trên cương vị một người chủ không?
- Câu hỏi thứ hai là mọi người có tin vào nhân cách của bạn, tin vào những dự định, những giá trị của bạn, có tin vào những gì bạn muốn làm và những điều bạn quan tâm nhất không?  Sự tin tưởng sẽ cho ta thấy tương lai và niềm tin sẽ giúp mọi người biết được những gì bạn sẽ làm. Chính vì điều này mà cả khả năng (năng lực) và những dự định sẽ làm của bạn (tâm ý của bạn) là rất quan trọng.

Có lẽ bạn đang nghĩ, "Về cơ bản tôi có năng lực và có trời chứng giám, ý tôi muốn nói là rất tốt." Nếu bạn nghĩ vậy, hãy cẩn thận. Rất nhiều nghiên cứu (gồm cả những kinh nghiệm của tác giả bài viết này là Linda và Kent) chứng minh một điều rõ ràng là hầu hết những người chủ thường chủ hoang tưởng rằng mọi người nghĩ rất tốt về mình. Thực tế là, nếu bạn không bằng cách nào đó tìm hiểu, bạn sẽ không biết người ta nghĩ gì về mình hay người ta có tin mình hay không đâu.

Và bạn sẽ tìm hiểu và đi tìm kiếm câu trả lời như thế nào? Điều này không hề dễ. Nếu người ta không tin bạn, nếu họ nghĩ bạn là người chủ tồi, thì khó có thể khiến họ nói thẳng với bạn được. Thậm chí khi người ta rất tôn trọng ngưỡng mộ bạn, họ cũng vẫn dè dặt đắn đo khi nói thẳng về những mặt chưa tốt mà bạn cần khắc phục. Và chắc chắn cách này sẽ chẳng giúp ích gì cho những người chủ bất tài, không vững vàng bản lĩnh chỉ biết đi hỏi ý kiến của người khác. Những người chủ này luôn nói " Hãy nói cho tôi biết sự thật." Nhưng mọi người biết ông ta đang chờ đợi những lời khen và sẽ nổi giận với những lời phê bình.

Làm thế nào để tiếp tục vượt qua những trở ngại như thế? Đó sẽ là chủ đề tiếp theo trong nhật kí mạng của chúng tôi bởi chủ đề này xứng đáng và thực sự cần chúng ta dành nhiều giấy mực và thời gian hơn nữa. Quan điểm hiện tại của chúng tôi là bạn phải làm việc một cách chủ động để biết người khác nghĩ về mình như thế nào khi mình trên cương vị là một người chủ. Rất ít đồng nghiệp hay những nhân viên trực tiếp dưới quyền của bạn sẽ sẵn lòng nói ra những thông tin kiểu như vậy.

Dù bạn làm gì, dù bạn làm như thế nào, bạn vẫn sẽ cần lòng can đảm để đón nhận những lời bình phẩm như thế, và thậm chí còn phải can đảm hơn nữa để hiểu ra và hành động dựa trên những lời khen chê ấy. Và chẳng còn cách nào khác để trở thành một người chủ giỏi. Chắc chắn không tồn tại nhiều cách để bạn có thể hi vọng trông cậy vào.

(Theo VEF)

Niềm đam mê có thể hủy hoại sự nghiệp của bạn?

Mọi doanh nghiệp đều muốn nhân viên của mình có niềm yêu thích say mê đối với công việc vì những nhân viên được truyền cảm hứng yêu nghề thì sẽ làm việc năng suất hơn, và niềm đam mê yêu thích có thể sẽ mang đến nguồn năng lượng cần thiết để làm tăng sự gắn bó với công việc dù cho có nhiều trở ngại, khó khăn. Trong thực tế, một số kiểu đam mê với công việc hết sức nguy hiểm và có hại.

Mọi doanh nghiệp đều muốn nhân viên của mình có niềm yêu thích say mê đối với công việc. Vì một lý do chính đáng đó là: những nhân viên được truyền cảm hứng yêu nghề thì sẽ làm việc năng suất hơn, và niềm đam mê yêu thích có thể sẽ mang đến nguồn năng lượng cần thiết để làm tăng sự gắn bó với công việc dù cho có nhiều trở ngại, khó khăn. Dường như niềm đam mê rõ ràng là điều luôn được ao ước, thì những nghiên cứu tâm lý gần đây lại đưa ra một nhận xét là không phải niềm đam mê công việc dưới tất cả các hình thức đều đem lại khả năng thích ứng tốt với mọi môi trường làm việc và giúp ích cho công việc. Trong thực tế, một số kiểu đam mê với công việc hết sức nguy hiểm và có hại.

Theo "Dạng thức kép của niềm đam mê" của Robert J.Vallerand, niềm đam mê công việc mang hai xu hướng đặc trưng đó là dung hòa và ám ảnh. Những người với niềm đam mê được dung hòa đến với công việc bởi công việc mang đến cho họ niềm vui thực sự. Họ có khả năng kiểm soát công việc, và công việc của họ luôn hài hòa với những hoạt động khác trong cuộc sống đời thường. Đồng thời, họ biết khi nào thì nên ngừng làm việc và sẵn sàng tạm ngừng công việc khi họ muốn tham gia hưởng thụ những thú vui khác hoặc biết dừng lại đúng lúc, bởi công việc nếu tiếp tục sẽ trở nên quá mạo hiểm. Kết quả là không xảy ra xung đột giữa công việc và những mảng hoạt động khác của cuộc sống. 

Ví dụ, khi họ đang dành thời gian thư giãn đi nghe hòa nhạc hoặc chơi đùa với con cái, họ sẽ tạm thời không nghĩ đến công việc. Và họ không cảm thấy tội lỗi khi họ không làm việc. Những phiếu câu hỏi điều tra niềm đam mê công việc được dung hòa nhận được những câu trả lời: "Công việc này cho tôi cơ hội phát huy những phẩm chất riêng biệt của bản thân mình mà tôi rất thích.", "Công việc này hài hòa với những hoạt động khác trong cuộc sống của tôi.", và "Đối với tôi, tôi vẫn có thể kiểm soát được niềm đam mê dành cho công việc của mình."
Niềm đam mê công việc một cách ám ảnh là một câu chuyện hoàn toàn khác. Giống như mọi người với niềm đam mê được dung hòa, những người với niềm đam mê ám ảnh cho rằng công việc của họ tượng trưng cho niềm đam mê đối với họ, và coi công việc có một giá trị rất lớn. Một sự khác biệt điển hình với niềm đam mê được dung hòa đó là họ cảm thấy một sự thúc giục phải luôn làm việc mà không thể cưỡng lại được. Kết quả là, họ cảm thấy không thể làm cân bằng hài hòa giữa niềm đam mê dành cho công việc và những hoạt động khác trong cuộc sống thường nhật. Những phiếu câu hỏi điều tra về niềm đam mê ám ảnh nhận được những câu trả lời: "Sự thúc giục rất mạnh mẽ. Tôi không thể tách mình ra khỏi công việc này." Và "Tâm trạng của tôi luôn phụ thuộc vào việc tôi có thể hoàn thành công việc này hay không."

Cả hai dạng của niềm đam mê gắn với những kết quả khác nhau. Niềm đam mê được dung hòa mang lại cho chúng ta một thể chất tốt hơn, một tâm lý thoải mái, lòng tự trọng, những cảm xúc tích cực, sự sáng tạo, sự tập trung, sự sáng khoải, sự hài lòng với công việc, và đem lại sự cân bằng hài hòa với các hoạt động khác trong cuộc sống. Những ảnh hưởng này sẽ tràn sang cả những lĩnh vực khác. Bởi vì con người với niềm đam mê hài hòa có thể chủ động rời khỏi công việc và dành thời gian trải nghiệm những phần khác của cuộc sống, họ luôn luôn thấy những ảnh hưởng tích cực.

Trái lại, những người với đam mê ám ảnh cho thấy mức độ chịu những ảnh hưởng tiêu cực qua thời gian cao hơn và thể hiện những biểu hiện kém thích ứng. Họ thấy mức độ chịu những ảnh hưởng tiêu cực trong và sau khi làm việc rất cao; họ khó có thể ngừng nghĩ đến công việc của mình và họ sẽ rất thất vọng khi họ không được làm việc. Họ cũng sẽ khăng khăng làm cho dù việc đó rất mạo hiểm (giống như một con bạc chơi thâu đêm suốt sáng. Một lý do giải thích cho điều này đó là công việc đã trở thành một phần rất lớn của sự tự ý thức về bản thân. Để bảo vệ chính mình, đôi khi họ phải thể hiện ra bên ngoài những hành động tự vệ ví dụ như sự hung hăng, đặc biệt khi chỗ đứng của họ bị đe dọa. Những người với niềm đam mê công việc một cách ảm ảnh thì thường có những hình ảnh tiêu cực về bản thân, dễ dàng gắn hai từ "bản thân" và "khó ưa" với nhau hơn là những người với có mức độ đam mê ám ảnh thấp hơn. Điều này cho thấy sự kiên trì theo đuổi công việc của họ không phải xuất phát từ niềm vui ham thích bên trong mà là từ cái tôi không ổn định.

Những sự khác biệt này sẽ có những tác động nhất định dẫn đến tình trạng kiệt sức do làm việc quá nhiều. Một nghiên cứu gần đây điều tra tình trạng kiệt sức (dựa trên đo tình trạng kiệt sức về mặt cảm xúc) của hai ví dụ tiêu biểu của các y tá trong suốt sáu tháng, ở hai quốc gia khác nhau. Niềm đam mê công việc một cách ám ảnh đã gia tăng khả năng kiệt sức; trong khi đó, niềm đam mê hài hòa giúp bảo vệ chống lại tình trạng kiệt sức. Những nhà nghiên cứu đã xác minh một vài yếu tố quan trọng để giải thích mối liên quan này. Niềm đam mê công việc ám ảnh thường đi cùng với mức độ xung đột với những nhiệm vụ khác trong cuộc sống cao hơn và thường không bao giờ đạt được sự thỏa mãn với công việc. Trong khi đó, niềm đam mê công việc hài hòa gắn với mức độ xung đột thấp hơn, và sự hài lòng với công việc cao hơn. Quan trọng là, những ảnh hưởng này sẽ còn tiếp tục thậm chí sau khi đã kiểm soát thành công số giờ làm việc. Những người với niềm đam mê công việc hài hòa luôn làm việc với tinh thần thoải mái và sẵn sàng giải quyết những vấn đề mới, trong khi những người với niềm đam mê công việc ám ảnh luôn chịu nguy cơ bị kiệt sức rất cao.

Tuy nhiên, chẳng phải sự kiên trì theo đuổi công việc là một điều tốt hay sao? Rất nhiều kiệt tác đã ra đời nhờ sự tập trung đầy ám ảnh vào công việc đến mức quên tất cả mọi thứ xung quanh. Nghiên cứu đã cho rằng đây có thể là một bí ẩn. Phân biệt giữ hai dạng kiên trì theo đuổi công việc một cách linh hoạt và kiên trì một cách cứng nhắc là rất quan trọng. Những người với niềm đam mê công việc ám ảnh, kiên trì làm việc một cách cứng nhắc thậm chí khi việc làm đó không còn đáng để mình bỏ công sức ra làm. Những người với niềm đam mê công việc được dung hòa thì thường nhạy bén hơn và chắc chắn cuối cùng sẽ thành công. Điều này giải thích tại sao rất nhiều thần đồng sau khi lớn lên đã dần dần thất bại dù chúng cũng rất tài năng. Chúng ta càng tự gắn mình một cách mất trí vào công việc, chúng ta càng có nguy cơ cao bị rơi vào tình trạng đuối sức.

Tóm lại, loại đam mê công việc một cách ám ảnh có rất nhiều vấn đề. Không chỉ ảnh hưởng công việc, mà còn ảnh hưởng nhiều mặt khác của cuộc sống. Bạn đang sở hữu loại đam mê nào? Bạn đã đạt được sự thỏa mãn thực sự từ công việc chưa hay có phải bạn cảm thấy như thể bạn đang làm việc là để chứng minh một điều gì đó cho người khác? Bạn có cảm thấy một nhu cầu bức thiết là phải làm việc không hay bạn có dễ dàng tạm ngưng công việc và hưởng những thú vui khác của cuộc sống không? Những câu hỏi đặt ra đối với những vị giám đốc đó là: Loại đam mê nào mà bạn đang ra sức lấy đi từ những nhân viên của mình? Đừng để bị đánh lừa bởi những nhân viên quá chăm chỉ. Bởi một vài trong số họ đang sắp rơi vào tình trạng kiệt sức.

Đồng hành với ước mơ

hững thành viên sáng lập mạng lưới khởi nghiệp trẻ VYE (Viet Youth Entrepreneurs) không xem đây là câu chuyện của đam mê. Với họ, mạng lưới có chức năng nâng đỡ những ước mơ của người khác và cũng chính là cách họ khởi nghiệp.
 
Đã có khá nhiều mạng cộng đồng khởi nghiệp, nhưng các bạn là nhóm sinh viên đầu tiên đưa yếu tố liên kết quốc tế vào chương trình của mình", ông Trần Hữu Đức, Giám đốc Đào tạo phát triển Cà phê Trung Nguyên, đã nhận xét về mạng lưới khởi nghiệp trẻ VYE như vậy.

Đây là một tổ chức phi lợi nhuận thuần tập trung vào việc phát triển khả năng khởi nghiệp của giới trẻ Việt Nam thông qua các hoạt động giáo dục, chia sẻ, truyền cảm hứng về tinh thần khởi nghiệp.

VYE sẽ hoạt động với các chương trình chính như: Đào tạo khởi nghiệp thường niên, Câu lạc bộ Khởi nghiệp trẻ, Cộng đồng trực tuyến và Kết nối đầu tư...

"Các hoạt động này hướng đến mục tiêu là xây nên một cộng đồng khởi nghiệp trẻ, kết nối và chia sẻ thông tin giữa sinh viên các nước có đam mê khởi nghiệp và kết nối đối tượng này với các chuyên gia, nhà đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam và trên toàn cầu", Lê Thùy Mai Trâm, thành viên Ban điều hành VYE, cho biết.
Điều đáng ngạc nhiên là thành lập và điều hành cũng như tìm nguồn tài trợ để nuôi sống VYE là những gương mặt còn đang ngồi trên ghế nhà trường: Nguyễn Thái Đông Hương, Nguyễn Xuân Thư, Trần Bình Ngọc, Trần Nguyên Bạch Lan. Hai người đang học ở Mỹ, hai người học ở Singapore, về Việt Nam, kết nạp thêm Lê Thùy Mai Trâm để trở thành bộ ngũ hoàn hảo cùng dốc sức cho dự án này.





VYE là nhóm sinh viên đầu tiên đưa yếu tố liên kết quốc tế vào chương trình của mình.

Nguyễn Thái Đông Hương kể, từ khi còn học trong nước, cô đã thích tìm hiểu về hoạt động kinh doanh của các doanh nhân Việt Nam và thế giới. Tốt nghiệp phổ thông trung học, Đông Hương theo học chuyên ngành kinh tế, Đại học Stanford, Hoa Kỳ. Sang xứ người, Hương mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cộng đồng doanh nhân quốc tế.

"Rất bất ngờ là những doanh nhân nổi tiếng trên thế giới lại không từ chối trao đổi email, tư vấn, giúp đỡ những người trẻ từ các nước", Đông Hương tiết lộ. Từ "đặc ân" này, Hương bắt đầu nhem nhóm hy vọng bạn bè cùng trang lứa cũng có thể tiếp xúc với doanh nhân quốc tế để học hỏi và mạnh dạn hơn trong việc triển khai ước mơ của mình.

Cô trở thành thành viên tích cực của Hội Sinh viên khởi nghiệp tại Đại học Stanford (BASES), Hội Kinh doanh tại Đại học Stanford (SPBA), Mạng lưới Lãnh đạo Đông Nam Á (SEALNet)..., vừa học hỏi vừa tích lũy thêm kinh nghiệm.

Thỏa mãn khát khao

Ý tưởng của Đông Hương cũng là điều mà Nguyễn Xuân Thư, cô sinh viên chuyên ngành Kinh tế, Đại học Quốc gia Singapore (NUS), Trần Bình Ngọc, anh sinh viên chuyên ngành Công nghệ thông tin, NUS và cô sinh viên chuyên ngành Tâm lý, Đại học Green Mountain, Trần Nguyên Bạch Lan đang ấp ủ.

Có lẽ, điểm chung của nhóm bạn này là đam mê khởi nghiệp. Trong đó, Xuân Thư có lợi thế nhiều nhất bởi cô đã có kinh nghiệm làm việc tại một số quốc gia, từng nghiên cứu cách thức xây dựng môi trường khởi nghiệp bền vững tại các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển cũng như đã tham gia các khóa đào tạo về khởi nghiệp tại Đại học Stanford...

Hiện Thư đang làm việc tại Rocket Fuel, một công ty khởi nghiệp được trao tặng danh hiệu Công ty khởi nghiệp tốt nhất trong năm 2010. Sát cánh cùng Thư là Trần Bình Ngọc, đôi bạn này có nhiệm vụ phát triển mạng lưới VYE tại Singapore, gây quỹ và triển khai dự án cộng đồng trực tuyến.

Có trên hai năm kinh nghiệm làm việc tại những công ty khởi nghiệp khác nhau ở Hoa Kỳ và Singapore, Ngọc từng là nhân sự thứ sáu của một công ty khởi nghiệp tại Thung lũng Silicon (Hoa Kỳ), nên việc góp sức cho VYE không khó.

Ngày ra mắt VYE, ngoài 5 thành viên Ban điều hành còn có khá nhiều bạn trẻ tham gia. Sự nhanh nhẹn, năng động và nhiệt tình của người trẻ đã tạo nên ấn tượng sâu sắc nơi những doanh nhân tham dự.

Đánh dấu sự hiện diện của mình tại Việt Nam, VYE kết hợp với Đại học Quốc gia TP.HCM và Chương trình Đầu tư Công nghệ của Đại học Stanford tổ chức chương trình khởi nghiệp mang tên Thắp sáng.

Đây là một khóa học chuyên sâu kéo dài từ 18 - 24/8, dành cho các bạn trẻ Việt Nam đam mê khởi nghiệp. Tham gia giảng dạy trong chương trình là TS. Tom Kosnik, Giáo sư tại Đại học Stanford, cùng nhiều khách mời khác.

"Ngay khi biết chúng tôi triển khai chương trình giáo dục khởi nghiệp tại Việt Nam, TS. Tom Kosnik đã nhận lời tham dự và thiết kế hẳn giáo trình cho chương trình này. Trong mắt ông, người trẻ Việt Nam là đối tượng có sẵn đam mê lẫn tố chất để làm giàu", Xuân Thư tiết lộ.

Không chỉ TS. Tom Kosnik, những chuyên gia như TS. Wong Poh Kam, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà đầu tư Đông Nam Á, Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ Đại học Quốc gia Singapore và TS. Vũ Minh Khương, Giáo sư Trường Chính sách công Lee Kuan Yew thuộc NUS cũng đã cam kết đồng hành với VYE trong vai trò cố vấn.

Theo Thùy Trâm, Thắp sáng dành cho sinh viên thuộc mọi chuyên ngành, từ tự nhiên, công nghệ đến sáng tạo..., chứ không chỉ giới hạn ở nhóm sinh viên chuyên ngành kinh tế. Kết thúc khóa học, sinh viên có cơ hội tham gia cuộc thi Khởi nghiệp quốc tế tại Singapore và Đại học Stanford.

"Đây chính là "đặc sản" mà ngay cả doanh nhân trong nước cũng chưa thể làm được cho người trẻ", ông Trần Hữu Phúc Tiến, Giám đốc trung tâm Việt Nam Hợp Điểm, nhận định.

(Theo Doanh nhân SG cuối tuần)

Hiện thân của văn hóa doanh nghiệp đương đại


CEO nhiều lúc như con ngựa bất kham: xông xáo, bứt phá, thậm chí không tự kiềm chế. Họ cũng mắc nhiều sai lầm, nhưng mỗi lần vấp ngã họ lại lớn lên và đưa doanh nghiệp tiến xa hơn. Steve Jobs là người như vậy.

Tuy nghiệp vụ của các chủ doanh nghiệp và CEO chỉ cách nhau trong gang tấc, nhưng tầm nhìn và tư duy sáng tạo lại “một trời, một vực”. Mặc dù phải quản lý và điều hành doanh nghiệp theo chương trình kế hoạch của Hội đồng quản trị, những CEO còn phải có óc sáng tạo, năng động, không ngừng tìm cách đưa doanh nghiệp bứt lên, vươn xa hơn, luôn đi cùng (thậm chí đi trước) thời đại để cạnh tranh có hiệu quả với các đối thủ trên thương trường.

Steve Jobs sinh năm 1955 ở Green Bay, bang Wisconsin. Cha ông là Abdulfattah Jandali, người Sirya. Ngay từ nhỏ, Steve Jobs đã có tính cách khác người, ương bướng, ngang ngạnh, hiếu động, nhưng thông minh và luôn nghĩ ra những trò chơi khác lạ. Tốt nghiệp cấp 2 loại giỏi, nhưng Steve lại không muốn học cấp 3, buộc cha mẹ phải chuyển nhà tới California mới chịu vào học. Năm 1972, Jobs tốt nghiệp cấp 3 ở Cupertino, California và thuyết phục cha mẹ cho mình vào học một trường đại học đóng  phí rất cao, nhưng rồi chỉ học có một học kỳ là bỏ học và say sưa nghiên cứu về kỹ thuật máy tính. Bị cha mẹ mắng mỏ, trì triết, Steve Jobs quyết tâm tự tìm việc để sống.

Năm 1974, khi 19 tuổi, Steve Jobs tình cờ thấy trên báo đăng tải Công ty máy tính Atari cần tuyển người, Jobs tới xin phỏng vấn để vào làm việc. Kỹ sư trưởng Alcorn của  Công ty Atari nhớ lại: “Trưởng phòng  nhân sự nói với tôi rằng một thằng oắt con 19 tuổi ăn mặc kỳ dị như thằng hề của rạp xiếc tới xin việc xưng danh là Steve Jobs. Sau khi phỏng vấn, hắn ta cứ khăng nói rằng sẽ không rời khỏi đây nếu như công ty không nhận hắn vào làm việc. Thằng này chỉ có “ăn no vác nặng” chứ biết gì về kỹ thuật máy tính. Thế nhưng có một cái gì đó mách bảo tôi về sự khác thường của thanh niên này, nên tôi nói hãy đưa anh ta vào đây. Quả nhiên sau cái vẻ kệch cỡm bề ngoài, con người này toát lên một sức sống mãnh liệt và bầu nhiệt huyết khác thường, đầy chất sáng tạo... Vì vậy, tôi đã nhận Steve Jobs vào làm việc”.

Steve Jobs được giao viết các chương trình về trò chơi điện tử và quả nhiên anh đã hoàn thành xuất sắc và chẳng bao lâu được giao chức trưởng phòng thiết kế chương trình trò chơi.

Nolan Bushnell, người sáng lập hãng Atari, kể lại: “Mỗi khi có dự định mới về nâng cấp hoặc cải tiến chương trình, Steve Jobs thường làm kế hoạch đệ trình tôi theo thời gian biểu từng ngày hoặc từng tuần, chứ không phải là hàng tháng hoặc hàng năm. Tôi thích những mẫu người làm việc cụ thể chính xác như Steve. Điều tôi mến mộ Steve ở chỗ là cậu ta không bao giờ thỏa mãn với thành quả đạt được mà luôn luôn muốn tìm ra cái mới hơn, tốt hơn với giá thành hạ nhưng mang lại hiệu quả cao”.

Trong thời gian làm việc cho Atari, Steve Jobs đã làm quen với kỹ sư thiết kế Steve Wozniak, hai người rất ăn ý với nhau về thiết kế các chương trình. Sau đó Jobs sang Ấn Độ cùng người bạn học là Dan Kottke để nghiên cứu các chương trình phần mềm mới về các trò chơi điện tử ở cấp độ cao hơn, sinh động hơn. Sau khi về Mỹ, Jobs thuyết phục Steve Wozniak rời khỏi Hewlett Packard để cùng nhau nghiên cứu sản xuất máy tính cá nhân (PC).

Đúng vào “ngày nói dối” 1/4/1976, Steve Jobs (21 tuổi) và Wozniak (26 tuổi) đã hùn vốn thành lâp Công ty máy tính Apple (Apple Computer Co.) Chiếc PC đầu tiên của Apple được sản xuất và ra đời trong garage ôtô của gia đình Steve Jobs và bán được 666,66 USD.

Năm 1980, Apple cho ra đời phiên bản thứ PC 3 (version 3) đã được cải tiến và hoàn thiện, đồng thời Aplle lên sàn giao dịch chứng khoán và phát hành cổ phiếu với giá 22 USD/một cổ phiếu, bán rất chạy trên thị trường. Jobs và Wozniak trở thành triệu phú.

Nhưng “ngày vui ngắn chẳng tày gang”, mâu thuẫn giữa Jobs và Wozniak nảy sinh. Trong hồi ký của mình, Wozniak viết: “Sau đó Steve Jobs trở nên kỳ quặc, không nghiên cứu gì thêm và cũng không ngó ngàng gì tới việc quản lý công ty cũng như tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Mọi người chẳng biết Jobs làm gì ở trong phòng, thỉnh thoảng Steve Jobs xuất hiện trước mọi người, nhưng ăn nói kiêu ngạo. Chính vì vậy, mọi người đều xa lánh Steve và tất cả những phiên bản mới, cũng như phát minh mới đều không cho anh biết. Bởi vì, Steve Jobs giờ đây là người không đáng tin cậy của Apple, thậm chí có lúc anh ta  còn lừa dối cả tôi, bao giờ cũng chỉ muốn mình được chia phần nhiều hơn”. Wozniak viết: “Nổi nóng, cáu bẳn, kiêu ngạo, cố chấp, buồn vui thất thường là đặc tính của Steve Jobs khi đó. Chính vì vậy mà anh ta đã gây sự với đa số nhân viên của Apple. Cuối cùng Hội đồng quản trị đã bãi chức và tước bỏ mọi chức quyền của Steve Jobs, khai trừ anh ta ”.

Sau khi buộc phải rời khỏi Apple, Steve Jobs từng ân hận nói: “Tôi bắt đầu tỉnh ngộ và hối hận về tính kiêu căng ngạo mạn của mình. Sau khi làm cha, tôi mới thấy mình chững chạc hơn và khiêm tốn hơn. Văn hóa kiêu căng ngạo mạn là điều tối kỵ đối với một chủ doanh nghiệp cho dù anh ta có đầu óc sáng tạo như thế nào. Sau vấp ngã này, tôi quyết tâm trở lại Tiểu vương quốc máy tính của tôi và cải tạo lại thế giới máy tính”.

Steve Jobs cho biết thời gian ở Apple, anh đã ấp ủ một kế hoạch lớn hơn, sáng tạo hơn, có thể cải tạo và xoay chuyển được một doanh nghiệp đang lâm vào khó khăn phá sản. Bởi vì khi đó, Steve Jobs cho rằng Apple bắt đầu mắc nhiều sai lầm trong chiến lược kinh doanh, đã tới lúc phải thay đổi lại cơ cấu. Steve Jobs nói “Tôi tự cải tạo mình và cải tạo cả thế giới máy tính”. Anh bắt đầu nghiên cứu và cho ra đời các máy tính hiện đại hơn như NeXT Computer.

Năm 1986, Steve Jobs mua lại Công ty hoạt hình kỹ thuật số Pixar và cho ra đời hàng loạt chương trình bán rất chạy trên thị trường. Trong lúc này, Apple bắt đầu rơi vào khó khăn, đứng trước nguy cơ phá sản do sai lầm của Wozniak và Giám đốc điều hành Scott. Năm 1996, Apple đã mời Jobs trở về làm cố vấn sau khi Apple tiến hành cải cách ban lãnh đạo. Chưa đầy một năm làm việc, Jobs đã vực Apple từ bờ vực thẳm phá sản trở lại sức sống mãnh liệt. Tháng 9/1997 Jobs trở thành CEO của Apple và tới Quí 4/1998, chưa đầy một năm sau, Jobs đã làm cho Apple thu về lợi nhuận tới 109 triệu USD. Kể từ đó tới nay Jobs đã đưa ra 7 đột phá công nghệ lớn làm cho Apple trở thành công ty máy tính hàng đầu thế giới hiện nay.

Trong cuộc đời, con người đều mắc sai lầm, vấp ngã, nhưng điều quan trọng là sau khi vấp ngã họ đã lấy lại nghị lực như thế nào để tiếp tục đứng dậy và tiến lên. Steve Jobs là con người như vậy. Mắc nhiều lỗi lầm, vấp ngã, nhưng anh không hề nản chí, ngược lại còn quyết tâm hơn trước. Một chủ doanh nghiệp cần có tố chất như Steve Jobs  thì mới có thể đưa doanh nghiệp tiến lên và đứng vững trước sóng gió cạnh tranh trên thương trường. Đó chính là văn hóa doanh nghiệp ngày nay.

(Nguồn: Tầm nhìn)