Friday, August 19, 2011

Khuếch trương hiệu quả một đại sứ thương hiệu

Mời một người có sức ảnh hưởng nào đó làm đại diện để quảng bá thương hiệu công ty, sản phẩm… không còn là chuyện mới, nhưng không phải công ty nào cũng có một chiến lược song hành cùng đại sứ thương hiệu sao cho đáng đồng tiền bát gạo đã bỏ ra cho Brand Ambassador.
Ai có thể là Brand Ambassador?
 
Trước hết, khái niệm về đại sứ thương hiệu cần được hiểu cho rõ là bộ mặt đại diện của thương hiệu, song hành cùng sự phát triển của thương hiệu trong một khoảng thời gian nào đó. Nhiều người hay nhầm lẫn một gương mặt quảng cáo cho sản phẩm, thương hiệu chính là “đại sứ thương hiệu”, điều này không chính xác vì họ chỉ được mời để chụp ảnh hay làm phim quảng cáo cho sản phẩm đó một lần rồi đường ai nấy đi, chứ không hề có một cam kết, ràng buộc nào về việc đồng hành phát triển thương hiệu của công ty đối tác.
 
Thông thường, nói đến Đại sứ thương hiệu người ta thường nghĩ ngay đến những người của công chúng như ca sĩ, diễn viên, vận động viên thể thao…, tuy nhiên chính những người trong công ty cũng có thể làm đại sứ thương hiệu. Điển hình nhất là CEO, sáng lập viên của những tập đoàn lớn, chẳng hạn như Apple với ông chủ Steve Job – người có thể làm cho các fan hâm mộ cắm trại qua đêm để đợi đến giờ ông đăng đàn diễn thuyết, Bill Gates với danh hiệu người giàu nhất thế giới và tên tuổi đã gắn liền với thương hiệu Microsoft, hay như ở Việt Nam có những ông Đặng Lê Nguyên Vũ (Trung Nguyên), Đoàn Nguyên Đức (Hoàng Anh Gia Lai)… nhắc đến tên tuổi thì người ta nghĩ ngay đến doanh nghiệp mà họ gắn bó.
 
Hồ Ngọc Hà thành công trong vai trò đại diện hình ảnh của Sunsilk
Hồ Ngọc Hà thành công trong vai trò đại diện hình ảnh của Sunsilk
 
Tuy nhiên số người mà tên tuổi cá nhân có tầm ảnh hưởng sâu rộng như vậy không nhiều, cho nên người ta hay tìm cách gắn thương hiệu của mình với những người đã nổi tiếng để sản phẩm theo đó “nương gió mà lên”, đặc biệt là những thương hiệu mới ra đời, cần sự bảo chứng của những tên tuổi có uy tín.
 
Lựa chọn Ambassador phù hợp cho thương hiệu
 
Để lựa chọn đại sứ phù hợp cho thương hiệu của mình, trước hết người làm thương hiệu phải phác họa được chân dung và tính cách thương hiệu của mình nhằm tìm ra một đại sứ có tố chất phù hợp nhất với nó. Chẳng hạn Sunsilk chọn Hồ Ngọc Hà cho chiến dịch tái định vị hình ảnh “Sống là không chờ đợi” bởi vì Hồ Ngọc Hà là một cô gái đại diện cho những người trẻ bây giờ: hiện đại, quyết đoán, dám theo đuổi ước mơ của mình còn Ngô Thanh Vân được chọn vào cương vị đại sứ của dòng máy ảnh IXUS vì họ muốn khẳng định một lần nữa hình ảnh “nóng bỏng, thời trang, thông minh, hiện đại và uy tín” của dòng máy ảnh IXUS – theo lời người đại diện của hãng.
 
Người làm thương hiệu cũng cần xem xét đối tượng khách hàng mục tiêu của mình, xem ai là người mà họ ngưỡng mộ, có thể gây ảnh hưởng đến họ nhằm chọn mặt gởi vàng cho một đại sứ thương hiệu phù hợp. Một chàng/nàng ca sĩ trẻ có thể rất được ưa thích trong giới teen, bạn có thể mời họ làm đại sứ cho sản phẩm dành cho giới trẻ, nhưng với một loại thuốc dành cho người trung niên thì có lẽ những diễn viên hài hay ca sĩ có tuổi mới là phù hợp.
 
Có những thương hiệu chọn những người đã rất nổi tiếng, như vậy thương hiệu của họ cũng được đông đảo người hâm mộ chú ý, tuy nhiên đi liền với việc đó thì số tiền chi cho đại sứ cũng rất cao. Một số thương hiệu nhỏ hơn chọn cách thức cùng song hành xây dựng thương hiệu cùng một người chưa mấy nổi tiếng mà họ nhận định sẽ tỏa sáng. Chẳng hạn như khi game RAN Online chọn ca sĩ Minh Hằng làm đại sứ (RAN Idol), Minh Hằng chỉ mới được biết đến với vai trò diễn viên qua vài ba bộ phim, nhưng sau một thời gian, với chiến lược song hành cùng nhau quảng bá, tên tuổi Minh Hằng đã vươn rất xa hơn bất kỳ ca sĩ teen nào lúc đó, việc này làm cho RAN Online cũng được đưa lên đòn bẩy, lúc này các thương hiệu game khác bắt đầu tỏ ra tiếc nuối khi trước đó họ đã cân nhắc những tên tuổi ca sĩ teen khác nổi tiếng hơn thay vì đầu tư cho ngôi sao mới nổi này.
Minh Hằng làm RAN Idol
Minh Hằng làm RAN Idol
 
Một số thương hiệu lại chọn đại sứ thương hiệu chính là những người bình thường trong cộng đồng thông qua các cuộc tuyển chọn. Việc này cũng giúp ích ở chỗ chúng tạo ra một cái cớ để truyền thông rộng rãi, và có thể tạo được một cơn sốt marketing truyền miệng trong cộng đồng những người quan tâm đến cuộc thi. Yamaha khi ra mắt dòng xe Cuxi đã có một cuộc thi để tuyển chọn các cô gái trẻ, có phong cách và có tầm ảnh hưởng nhất định trên Internet làm đại diện hình ảnh cho dòng xe này, ngoài một số ưu đãi, đặc biệt các cô sẽ được hãng cho “mượn” xe Cuxi để đi trong vòng một thời gian dài nhằm quảng bá hình ảnh cho Yamaha Cuxi và tạo ra một trào lưu bắt chước đi xe Cuxi trong giới trẻ. Tiếc là dòng xe này đã không thành công như mong đợi nhưng cách tuyển chọn “đại sứ quần chúng” như Yamaha là đáng để tham khảo và học hỏi.
 
Chỉ số ROI kế hoạch sử dụng Ambassador
ROI (Return on Investment hay Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư) là một tiêu chí thường gặp trong tất cả các bài toán kinh tế, và việc chọn đại sứ thương hiệu cũng không nên nằm ngoại lệ. Nhiều người làm thương hiệu cảm thấy mơ hồ về hiệu quả khi đầu tư cho một Brand Ambassador. Họ nhận thấy bằng cảm tính, rằng bỏ tiền ra cho một người nổi tiếng, thì tên tuổi của thương hiệu sẽ theo đó nổi tiếng theo, nhưng nổi tiếng ở mức độ nào, nó có được quy về những con số cụ thể về tỷ lệ nhận biết thương hiệu hay doanh số hay không thì nhiều người không trả lời được.
 
Một đại sứ thương hiệu có thể làm cho bạn nhiều việc hơn là đơn thuần chỉ đóng vài ba phim quảng cáo, chụp một vài bức ảnh cùng sản phẩm hay một buổi họp báo công bố người làm đại sứ thương hiệu. Nhất là trong thời đại Social Media phát triển rộng rãi, thông qua Internet bạn có thể làm cho đông đảo khán giả biết đến việc họ làm đại sứ cho bạn. Đó có thể là một cuộc thi tổ chức trên mạng nơi người thắng cuộc có thể ăn tối/song ca/đi mua sắm cùng thần tượng chính là đại sứ thương hiệu của bạn, có thể là một trang fan page hay blog của đại sứ – nơi kết nối họ và các fan và tất nhiên không thể thiếu hình ảnh của thương hiệu trong đó, hay đơn giản nhất là việc rò rỉ một bộ ảnh mà bạn đã khéo léo “cài cắm” sản phẩm hay thông điệp của mình vào. Nếu chịu khó nghĩ ngợi và khai phá, sẽ có nhiều cách để làm hơn là cho đại sứ cầm trên tay sản phẩm và nói:”Sản phẩm X – tốt nhất cho tất cả mọi người”.
 
Bạn có thể đo lường được hiệu quả nhận biết thương hiệu nhờ vị đại sứ của mình thông qua các 
, cụm từ tìm kiếm trong công cụ đo lường lượng truy cập và độc giả của website. Bạn cũng có thể quan sát và đánh giá hiệu quả của đại sứ thương hiệu thông qua sự đi lên của doanh số trong những ngày song hành cùng đại sứ thương hiệu của mình, tất nhiên đã trừ đi các chênh lệch do các hoạt động marketing và bán hàng khác đem lại.
 
Nhiều người đã sử dụng đại sứ thương hiệu than phiền rằng đại sứ đó chẳng nỗ lực gì trong việc xây dựng thương hiệu của họ, nhưng nỗ lực như thế nào, làm những gì là hợp ý họ, sao không định ra các tiêu chí đó ngay từ đầu và thống nhất giữa hai bên? Vị đại sứ của chúng ta có thể quá bận rộn hoặc thiếu động lực, thiếu sáng tạo trong việc nghĩ ra cách làm sao để tốt cho thương hiệu mà họ đã ký hợp đồng làm gương mặt đại diện, nhưng chúng ta là người làm marketing cho thương hiệu của mình, chúng ta cần thiết phải nghĩ thay cho họ.
 
Hãy tận dụng đại sứ thương hiệu ở tất cả các kênh sao cho đáng đồng tiền bát gạo bỏ ra cho họ: brochure, leaflet, in trên sản phẩm, TVC, printAd, xuất hiện trong buổi ra mắt sản phẩm, giao lưu cùng người hâm mộ, báo chí, diễn đàn, website công ty… Tốt hơn là làm rõ trong hợp đồng, bạn cần họ cho những hoạt động gì, cần xuất hiện bao nhiêu buổi trong năm, làm những gì trong đó, quy định rõ những chi phí như phụ cấp đi lại, ăn ở sẽ tính như thế nào… Nếu chưa có kế hoạch cụ thể thì cũng có thể áng chừng, còn không, khi hợp đồng giữa hai bên quá chung chung, sau này nảy sinh những hoạt động cần sự có mặt của họ, bạn sẽ có thể nhận được những lời thoái thác từ họ hoặc phải trả thêm các chi phí phát sinh cho việc đó.
 
Có thể sẽ có những rủi ro không mong muốn xảy đến trong quá trình họ làm đại sứ cho thương hiệu của bạn, chẳng hạn như đại sứ của chúng ta bị dính vào một scandal nào đó, con đường sự nghiệp của họ bị đi xuống, hoặc họ vô tình/cố ý vi phạm các điều khoản trong hợp đồng. Bạn có thể gặp xui như trường hợp Kim Nam Joo bị “tẩy chay” khi phát hiện đã “lột xác” từ con vịt trở thành thiên nga nhờ phẫu thuật thẩm mỹ, khiến cho hãng LG phải hủy hợp đồng làm đại sứ hình ảnh của cô, hay như cầu thủ Văn Quyến bị Pepsi từ chối hợp tác làm đại diện hình ảnh vì những bê bối của mình. Nhưng nhiều khi scandal lại là may mắn, chẳng hạn như việc Hồ Ngọc Hà có bầu không những làm sự nghiệp của cô đi xuống mà cô lại càng lên như diều gặp gió và những thương hiệu như Sunsilk mà cô đang đại diện cũng hưởng lợi từ việc này. Tuy nhiên cũng không có mấy ai can đảm đem thương hiệu của mình đánh cược vào một vụ thăng trầm của người nổi tiếng, nên hầu hết đều chọn những ràng buộc an toàn cho mình. Bạn hãy quy định rõ trong hợp đồng, rằng trong thời gian làm đại sứ thương hiệu, vị đại sứ của chúng ta không để phạm những sai lầm như làm đại diện hình ảnh cho một đối thủ cạnh tranh, sử dụng hay gắn hình ảnh với một sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trước công chúng hay trên báo chí, sử dụng chất kích thích, bê bối trong quan hệ tình ái, tình dục, phát ngôn thiếu cẩn trọng gây mất lòng dư luận…
 
Một số thương hiệu còn kỹ lưỡng hơn nữa khi quy định rằng đại sứ hình ảnh không được làm đại diện cho một đối thủ cạnh tranh cùng ngành nào trong vòng 1 năm sau khi kết thúc hợp đồng
 

Thursday, August 18, 2011

Bạn đang phủ nhận cái gì?


Image
Một ngày, tôi ăn trưa với một người bạn thân. Mặc dù rất thích gặp gỡ người bạn này và đồ ăn cũng rất ngon, nhưng tôi cảm thấy năng lượng của tôi lại bị tiêu hao một ít.

Khi nghĩ về điều đó, tôi thấy người bạn của tôi thật thông minh khi chẳng phủ nhận bất kì cuốn sách, khái niệm, vị quân sư, phương pháp tự giúp đỡ hoặc phương pháp chữa bênh nào mà anh đã đọc hoặc nghe nói về nó.

Anh ấy không phủ nhận trực tiếp hoặc phê phán một cách có chủ ý. Anh chân thành mong muốn một điều gì đó sẽ có hiệu quả trong cuộc sống của anh. Nhưng anh đã vô tình không thừa nhận tất cả mọi thứ diễn ra, theo cách của anh.

Điểm thứ nhất là, tôi đã kể cho anh nghe về một vị thầy tinh thần mà tôi đã là học trò hơn hai thập kỷ trước đây. Tôi nói với anh rằng người ta nói, “Thầy của bạn rõ ràng là đã giác ngộ. Ông ta đã chứng tỏ điều đó.”

Anh bạn tôi cắt ngang mà nói rằng, “Tôi chắc chắn rằng nhiều người đã gặp vị thầy này và không nghĩ rằng ông ta thông minh hơn bất kỳ cái túi giấy nào.”

Vâng, bạn của tôi nói đúng.

Nhưng bạn của tôi cũng chẳng hạnh phúc gì.

Tôi nghĩ rằng, ở đây có một bài học. Khi chúng ta bác bỏ những con người hay những ý tưởng vì toàn thế giới này không đồng ý với họ, chúng ta được cho là đúng. Nhưng chúng ta cũng nhận được một cái gì đó bên trong trống rỗng. Bằng cách không thừa nhận những gì có hiệu quả, chúng ta cũng đã không thừa nhận sự tăng trưởng của chúng ta. Chúng ta không thừa nhận những gì có thể xảy ra.

Sẽ chẳng có chuyện gì nếu cuốn sách mà bạn đọc và yêu quý cũng được người khác yêu quý; nếu người thầy mà bạn ngưỡng mộ; nếu một phương pháp chữa bệnh có hiệu quả đối với bạn nhưng lại không có hiệu quả đối với người khác.

Quan trọng là với bạn. Hạnh phúc của bạn. Sức khỏe của bạn. Việc chữa bệnh của bạn. Sự giàu có của bạn.
Sự thật là, không phương pháp nào có hiệu quả đối với tất cả mọi người. Không có giáo viên nào đúng với tất cả mọi người. Không có cuốn sách nào truyền cảm hứng cho tất cả mọi người.

Tất cả đều xuất phát từ bên trong. Bạn là người đầu tiên và người cuối cùng có thẩm quyền đối với cuộc sống của bạn.

Thay vì không thừa nhận những gì có thể xảy ra để bạn có thể đúng, thì bạn có thể chấp nhận những gì sao cho bạn có thể phát triển?

Không thừa nhận thường là một cách để làm chệch hướng các thông điệp. Đó là một cơ chế tự vệ. Nếu bạn không thừa nhận một cuốn sách, ý tưởng, hoặc bằng phương pháp mà người ta cung cấp cho bạn, bạn sẽ đúng thôi – và cứ đúng dù bạn đang ở đâu.

Tiến sĩ Richard Gillett, khi viết cuốn sách tuyệt vời của mình, cuốn Change Your Mind, Change Your World đã tuyên bố, “Thật đáng ngạc nhiên, bác bỏ là chỉ báo đáng tin cậy nhất của một hệ thống niềm tin không lộ diện. Thường thì cách duy nhất để những niềm tin được ngụy trang tự bộc lộ là thông qua những khoảnh khắc đánh giá hoặc bác bỏ cảm xúc.”

Tất cả những người thành công mà tôi biết đều đã chấp nhận đưa những công cụ mới vào cuộc sống của họ trong những năm qua, đã đầu tư hàng nghìn đô la cho phát triển cá nhân và tự học. và họ không bao giờ hối tiếc về chuyện đó.

Điểm mấu chốt là không bác bỏ, không phủ nhận, mà là lĩnh hội.
Joe Vitale – trích trong Tác nhân thu hút

Can đảm: Nền tảng trở thành người chủ giỏi

Có rất nhiều tiêu chuẩn được đặt ra dành cho những người đứng mũi chịu sào trong mỗi công việc, nhưng có một tiêu chí mà hiếm khi được nhắc đến. Nhưng thật nực cười đó lại là tiêu chí quan trọng nhất bởi nó là nền tảng cho những tiêu chí tiếp theo. Đó là lòng can đảm.

Tiêu chí quan trọng đầu tiên đó là lòng can đảm.

Chúng tôi muốn nói điều này có nghĩa không chỉ là lòng can đảm dám đưa ra những quyết định khó khăn hay làm những công việc đầy thách thức, chẳng hạn như đưa ra những lời nhận xét không hay, từ chối đề nghị thăng chức cho một ai đó đã hoàn thành công việc nhưng vẫn chưa thực sự tốt, bỏ đi những chương trình quen thuộc nhưng không thành công, hay thậm chí sa thải nhân viên khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái.

Chúng tôi muốn nói tất cả những hành động kể trên và những hành động tương tự đều cần lòng can đảm, nhưng chúng tôi cũng muốn nói đến những điều thậm chí còn khó hơn. Đó là: rất cần thiết phải biết nhìn nhận bản thân mình theo cách mà người khác nhìn vào chúng ta, dù có khi cách nhìn nhận của người khác không giống với cách của chúng ta. Những người khác có thể không coi chúng ta là một người chủ có năng lực, đầy thiện chí như chúng ta nghĩ. Vì vậy, khi phát hiện ra và phải đón nhận điều này đòi hỏi rất nhiều lòng can đảm.

Chúng ta biết những người chủ có tâm có tài thường là những người phải thức hàng đêm để hoàn thành những dự án quan trọng. Mặc dù công việc không đòi hỏi sự có mặt của bà chủ, nhưng bà ấy vẫn đến và ở lại cùng nhân viên đến tận khuya như một cách để thể hiện sự san sẻ gánh nặng và trân trọng, cảm kích cống hiến của nhân viên cũng như để cổ vũ động viên họ. Mãi đến sau này bà ấy mới biết rằng những nhân viên phải làm việc tăng ca ban đêm không hề thích những việc bà chủ đã làm. Thay vì nghĩ sự có mặt của bà chủ thể hiện sự động viên ủng hộ dành cho mình, thì những người nhân viên đó lại nghĩ bà chủ không hoàn toàn tin tưởng họ có thể hoàn thành công việc đúng thời hạn.




Ảnh minh họa 
Vì vậy mà sự có mặt của bà ấy đã vô tình làm xấu đi mối quan hệ gắn kết giữa nhân viên và chủ, cũng như đi ngược lại hoàn toàn mong muốn và ý tốt ban đầu của người chủ. Bà ấy chỉ phát hiện ra điều này khi vô tình hỏi.

Bao nhiêu người trong số chúng ta vô tình và sai lầm khi có ý nghĩ rằng người khác nghĩ về mình đúng như mình nghĩ về bản thân?

Một ông giám đốc nọ thì nghĩ mình là người điều hành, phân công công việc hiệu quả, nhưng trong thực tế ông ấy đang giao phó quá nhiều việc cho nhân viên. Và mọi người thì coi ông ta là một  giám đốc quá ư chi li, độc đoán và hống hách. Khi biết được điều này, ông ấy đã rất bất ngờ và cảm thấy bị tổn thương, và cũng chính điều này đã buộc ông ta phải suy nghĩ và xem xét lại mối quan hệ của mình với các nhân viên. Tuy nhiên, chúng tôi biết có những người khác lại nghĩ ông ấy đã truyền đạt một cách rất rõ là ông thực sự quan tâm đến mọi người và công việc của tập thể mà ông đang dẫn dắt. Nhưng rất nhiều người trong số nhân viên lại nghĩ ông ấy chỉ quan tâm đến bản thân và sự nghiệp của ông ta.

Để hiểu được tại sao lòng can đảm rất quan trọng, hãy thử tượng tượng xem bạn làm gì khi là một người chủ.

Để hoàn thành trách nhiệm đối với công việc của người khác, bạn phải nỗ lực thật nhiều để chiếm được cảm tình và tạo được ảnh hưởng với họ. Bạn cố gắng tạo nên sự khác biệt trong từng việc họ làm, trong cách họ suy nghĩ và cảm nhận, điều này sẽ giúp thay đổi hành vi của họ.

Có một vài cách giúp bạn làm được điều này ngoại trừ ép buộc "Làm việc này đi hoặc là tôi sẽ sa thải anh".

Tất cả mọi cách để chiếm được lòng tin tạo ảnh hưởng đều bắt đầu từ lòng tin. Người ta phải thấy sẵn lòng thoải mái lắng nghe và làm theo những gì bạn nói, nhưng thái độ ấy sẵn sàng, đầy thiện chí ấy chỉ có khi người ta thực sự tin tưởng vào bạn.

Những người làm việc với bạn, nhân viên cấp dưới, đồng nghiệp, hay cấp trên có tin tưởng bạn không? Bằng cách phân tách niềm tin thành hai phần riêng biệt, chúng ta có thể đặt ra cùng một câu hỏi tương tự nhưng theo một cách hữu ích hơn:

- Mọi người có tin là bạn có tài năng, có tin rằng bạn luôn biết những gì cần phải làm và làm như thế nào trên cương vị một người chủ không?
- Câu hỏi thứ hai là mọi người có tin vào nhân cách của bạn, tin vào những dự định, những giá trị của bạn, có tin vào những gì bạn muốn làm và những điều bạn quan tâm nhất không?  Sự tin tưởng sẽ cho ta thấy tương lai và niềm tin sẽ giúp mọi người biết được những gì bạn sẽ làm. Chính vì điều này mà cả khả năng (năng lực) và những dự định sẽ làm của bạn (tâm ý của bạn) là rất quan trọng.

Có lẽ bạn đang nghĩ, "Về cơ bản tôi có năng lực và có trời chứng giám, ý tôi muốn nói là rất tốt." Nếu bạn nghĩ vậy, hãy cẩn thận. Rất nhiều nghiên cứu (gồm cả những kinh nghiệm của tác giả bài viết này là Linda và Kent) chứng minh một điều rõ ràng là hầu hết những người chủ thường chủ hoang tưởng rằng mọi người nghĩ rất tốt về mình. Thực tế là, nếu bạn không bằng cách nào đó tìm hiểu, bạn sẽ không biết người ta nghĩ gì về mình hay người ta có tin mình hay không đâu.

Và bạn sẽ tìm hiểu và đi tìm kiếm câu trả lời như thế nào? Điều này không hề dễ. Nếu người ta không tin bạn, nếu họ nghĩ bạn là người chủ tồi, thì khó có thể khiến họ nói thẳng với bạn được. Thậm chí khi người ta rất tôn trọng ngưỡng mộ bạn, họ cũng vẫn dè dặt đắn đo khi nói thẳng về những mặt chưa tốt mà bạn cần khắc phục. Và chắc chắn cách này sẽ chẳng giúp ích gì cho những người chủ bất tài, không vững vàng bản lĩnh chỉ biết đi hỏi ý kiến của người khác. Những người chủ này luôn nói " Hãy nói cho tôi biết sự thật." Nhưng mọi người biết ông ta đang chờ đợi những lời khen và sẽ nổi giận với những lời phê bình.

Làm thế nào để tiếp tục vượt qua những trở ngại như thế? Đó sẽ là chủ đề tiếp theo trong nhật kí mạng của chúng tôi bởi chủ đề này xứng đáng và thực sự cần chúng ta dành nhiều giấy mực và thời gian hơn nữa. Quan điểm hiện tại của chúng tôi là bạn phải làm việc một cách chủ động để biết người khác nghĩ về mình như thế nào khi mình trên cương vị là một người chủ. Rất ít đồng nghiệp hay những nhân viên trực tiếp dưới quyền của bạn sẽ sẵn lòng nói ra những thông tin kiểu như vậy.

Dù bạn làm gì, dù bạn làm như thế nào, bạn vẫn sẽ cần lòng can đảm để đón nhận những lời bình phẩm như thế, và thậm chí còn phải can đảm hơn nữa để hiểu ra và hành động dựa trên những lời khen chê ấy. Và chẳng còn cách nào khác để trở thành một người chủ giỏi. Chắc chắn không tồn tại nhiều cách để bạn có thể hi vọng trông cậy vào.

(Theo VEF)

Niềm đam mê có thể hủy hoại sự nghiệp của bạn?

Mọi doanh nghiệp đều muốn nhân viên của mình có niềm yêu thích say mê đối với công việc vì những nhân viên được truyền cảm hứng yêu nghề thì sẽ làm việc năng suất hơn, và niềm đam mê yêu thích có thể sẽ mang đến nguồn năng lượng cần thiết để làm tăng sự gắn bó với công việc dù cho có nhiều trở ngại, khó khăn. Trong thực tế, một số kiểu đam mê với công việc hết sức nguy hiểm và có hại.

Mọi doanh nghiệp đều muốn nhân viên của mình có niềm yêu thích say mê đối với công việc. Vì một lý do chính đáng đó là: những nhân viên được truyền cảm hứng yêu nghề thì sẽ làm việc năng suất hơn, và niềm đam mê yêu thích có thể sẽ mang đến nguồn năng lượng cần thiết để làm tăng sự gắn bó với công việc dù cho có nhiều trở ngại, khó khăn. Dường như niềm đam mê rõ ràng là điều luôn được ao ước, thì những nghiên cứu tâm lý gần đây lại đưa ra một nhận xét là không phải niềm đam mê công việc dưới tất cả các hình thức đều đem lại khả năng thích ứng tốt với mọi môi trường làm việc và giúp ích cho công việc. Trong thực tế, một số kiểu đam mê với công việc hết sức nguy hiểm và có hại.

Theo "Dạng thức kép của niềm đam mê" của Robert J.Vallerand, niềm đam mê công việc mang hai xu hướng đặc trưng đó là dung hòa và ám ảnh. Những người với niềm đam mê được dung hòa đến với công việc bởi công việc mang đến cho họ niềm vui thực sự. Họ có khả năng kiểm soát công việc, và công việc của họ luôn hài hòa với những hoạt động khác trong cuộc sống đời thường. Đồng thời, họ biết khi nào thì nên ngừng làm việc và sẵn sàng tạm ngừng công việc khi họ muốn tham gia hưởng thụ những thú vui khác hoặc biết dừng lại đúng lúc, bởi công việc nếu tiếp tục sẽ trở nên quá mạo hiểm. Kết quả là không xảy ra xung đột giữa công việc và những mảng hoạt động khác của cuộc sống. 

Ví dụ, khi họ đang dành thời gian thư giãn đi nghe hòa nhạc hoặc chơi đùa với con cái, họ sẽ tạm thời không nghĩ đến công việc. Và họ không cảm thấy tội lỗi khi họ không làm việc. Những phiếu câu hỏi điều tra niềm đam mê công việc được dung hòa nhận được những câu trả lời: "Công việc này cho tôi cơ hội phát huy những phẩm chất riêng biệt của bản thân mình mà tôi rất thích.", "Công việc này hài hòa với những hoạt động khác trong cuộc sống của tôi.", và "Đối với tôi, tôi vẫn có thể kiểm soát được niềm đam mê dành cho công việc của mình."
Niềm đam mê công việc một cách ám ảnh là một câu chuyện hoàn toàn khác. Giống như mọi người với niềm đam mê được dung hòa, những người với niềm đam mê ám ảnh cho rằng công việc của họ tượng trưng cho niềm đam mê đối với họ, và coi công việc có một giá trị rất lớn. Một sự khác biệt điển hình với niềm đam mê được dung hòa đó là họ cảm thấy một sự thúc giục phải luôn làm việc mà không thể cưỡng lại được. Kết quả là, họ cảm thấy không thể làm cân bằng hài hòa giữa niềm đam mê dành cho công việc và những hoạt động khác trong cuộc sống thường nhật. Những phiếu câu hỏi điều tra về niềm đam mê ám ảnh nhận được những câu trả lời: "Sự thúc giục rất mạnh mẽ. Tôi không thể tách mình ra khỏi công việc này." Và "Tâm trạng của tôi luôn phụ thuộc vào việc tôi có thể hoàn thành công việc này hay không."

Cả hai dạng của niềm đam mê gắn với những kết quả khác nhau. Niềm đam mê được dung hòa mang lại cho chúng ta một thể chất tốt hơn, một tâm lý thoải mái, lòng tự trọng, những cảm xúc tích cực, sự sáng tạo, sự tập trung, sự sáng khoải, sự hài lòng với công việc, và đem lại sự cân bằng hài hòa với các hoạt động khác trong cuộc sống. Những ảnh hưởng này sẽ tràn sang cả những lĩnh vực khác. Bởi vì con người với niềm đam mê hài hòa có thể chủ động rời khỏi công việc và dành thời gian trải nghiệm những phần khác của cuộc sống, họ luôn luôn thấy những ảnh hưởng tích cực.

Trái lại, những người với đam mê ám ảnh cho thấy mức độ chịu những ảnh hưởng tiêu cực qua thời gian cao hơn và thể hiện những biểu hiện kém thích ứng. Họ thấy mức độ chịu những ảnh hưởng tiêu cực trong và sau khi làm việc rất cao; họ khó có thể ngừng nghĩ đến công việc của mình và họ sẽ rất thất vọng khi họ không được làm việc. Họ cũng sẽ khăng khăng làm cho dù việc đó rất mạo hiểm (giống như một con bạc chơi thâu đêm suốt sáng. Một lý do giải thích cho điều này đó là công việc đã trở thành một phần rất lớn của sự tự ý thức về bản thân. Để bảo vệ chính mình, đôi khi họ phải thể hiện ra bên ngoài những hành động tự vệ ví dụ như sự hung hăng, đặc biệt khi chỗ đứng của họ bị đe dọa. Những người với niềm đam mê công việc một cách ảm ảnh thì thường có những hình ảnh tiêu cực về bản thân, dễ dàng gắn hai từ "bản thân" và "khó ưa" với nhau hơn là những người với có mức độ đam mê ám ảnh thấp hơn. Điều này cho thấy sự kiên trì theo đuổi công việc của họ không phải xuất phát từ niềm vui ham thích bên trong mà là từ cái tôi không ổn định.

Những sự khác biệt này sẽ có những tác động nhất định dẫn đến tình trạng kiệt sức do làm việc quá nhiều. Một nghiên cứu gần đây điều tra tình trạng kiệt sức (dựa trên đo tình trạng kiệt sức về mặt cảm xúc) của hai ví dụ tiêu biểu của các y tá trong suốt sáu tháng, ở hai quốc gia khác nhau. Niềm đam mê công việc một cách ám ảnh đã gia tăng khả năng kiệt sức; trong khi đó, niềm đam mê hài hòa giúp bảo vệ chống lại tình trạng kiệt sức. Những nhà nghiên cứu đã xác minh một vài yếu tố quan trọng để giải thích mối liên quan này. Niềm đam mê công việc ám ảnh thường đi cùng với mức độ xung đột với những nhiệm vụ khác trong cuộc sống cao hơn và thường không bao giờ đạt được sự thỏa mãn với công việc. Trong khi đó, niềm đam mê công việc hài hòa gắn với mức độ xung đột thấp hơn, và sự hài lòng với công việc cao hơn. Quan trọng là, những ảnh hưởng này sẽ còn tiếp tục thậm chí sau khi đã kiểm soát thành công số giờ làm việc. Những người với niềm đam mê công việc hài hòa luôn làm việc với tinh thần thoải mái và sẵn sàng giải quyết những vấn đề mới, trong khi những người với niềm đam mê công việc ám ảnh luôn chịu nguy cơ bị kiệt sức rất cao.

Tuy nhiên, chẳng phải sự kiên trì theo đuổi công việc là một điều tốt hay sao? Rất nhiều kiệt tác đã ra đời nhờ sự tập trung đầy ám ảnh vào công việc đến mức quên tất cả mọi thứ xung quanh. Nghiên cứu đã cho rằng đây có thể là một bí ẩn. Phân biệt giữ hai dạng kiên trì theo đuổi công việc một cách linh hoạt và kiên trì một cách cứng nhắc là rất quan trọng. Những người với niềm đam mê công việc ám ảnh, kiên trì làm việc một cách cứng nhắc thậm chí khi việc làm đó không còn đáng để mình bỏ công sức ra làm. Những người với niềm đam mê công việc được dung hòa thì thường nhạy bén hơn và chắc chắn cuối cùng sẽ thành công. Điều này giải thích tại sao rất nhiều thần đồng sau khi lớn lên đã dần dần thất bại dù chúng cũng rất tài năng. Chúng ta càng tự gắn mình một cách mất trí vào công việc, chúng ta càng có nguy cơ cao bị rơi vào tình trạng đuối sức.

Tóm lại, loại đam mê công việc một cách ám ảnh có rất nhiều vấn đề. Không chỉ ảnh hưởng công việc, mà còn ảnh hưởng nhiều mặt khác của cuộc sống. Bạn đang sở hữu loại đam mê nào? Bạn đã đạt được sự thỏa mãn thực sự từ công việc chưa hay có phải bạn cảm thấy như thể bạn đang làm việc là để chứng minh một điều gì đó cho người khác? Bạn có cảm thấy một nhu cầu bức thiết là phải làm việc không hay bạn có dễ dàng tạm ngưng công việc và hưởng những thú vui khác của cuộc sống không? Những câu hỏi đặt ra đối với những vị giám đốc đó là: Loại đam mê nào mà bạn đang ra sức lấy đi từ những nhân viên của mình? Đừng để bị đánh lừa bởi những nhân viên quá chăm chỉ. Bởi một vài trong số họ đang sắp rơi vào tình trạng kiệt sức.

Đồng hành với ước mơ

hững thành viên sáng lập mạng lưới khởi nghiệp trẻ VYE (Viet Youth Entrepreneurs) không xem đây là câu chuyện của đam mê. Với họ, mạng lưới có chức năng nâng đỡ những ước mơ của người khác và cũng chính là cách họ khởi nghiệp.
 
Đã có khá nhiều mạng cộng đồng khởi nghiệp, nhưng các bạn là nhóm sinh viên đầu tiên đưa yếu tố liên kết quốc tế vào chương trình của mình", ông Trần Hữu Đức, Giám đốc Đào tạo phát triển Cà phê Trung Nguyên, đã nhận xét về mạng lưới khởi nghiệp trẻ VYE như vậy.

Đây là một tổ chức phi lợi nhuận thuần tập trung vào việc phát triển khả năng khởi nghiệp của giới trẻ Việt Nam thông qua các hoạt động giáo dục, chia sẻ, truyền cảm hứng về tinh thần khởi nghiệp.

VYE sẽ hoạt động với các chương trình chính như: Đào tạo khởi nghiệp thường niên, Câu lạc bộ Khởi nghiệp trẻ, Cộng đồng trực tuyến và Kết nối đầu tư...

"Các hoạt động này hướng đến mục tiêu là xây nên một cộng đồng khởi nghiệp trẻ, kết nối và chia sẻ thông tin giữa sinh viên các nước có đam mê khởi nghiệp và kết nối đối tượng này với các chuyên gia, nhà đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam và trên toàn cầu", Lê Thùy Mai Trâm, thành viên Ban điều hành VYE, cho biết.
Điều đáng ngạc nhiên là thành lập và điều hành cũng như tìm nguồn tài trợ để nuôi sống VYE là những gương mặt còn đang ngồi trên ghế nhà trường: Nguyễn Thái Đông Hương, Nguyễn Xuân Thư, Trần Bình Ngọc, Trần Nguyên Bạch Lan. Hai người đang học ở Mỹ, hai người học ở Singapore, về Việt Nam, kết nạp thêm Lê Thùy Mai Trâm để trở thành bộ ngũ hoàn hảo cùng dốc sức cho dự án này.





VYE là nhóm sinh viên đầu tiên đưa yếu tố liên kết quốc tế vào chương trình của mình.

Nguyễn Thái Đông Hương kể, từ khi còn học trong nước, cô đã thích tìm hiểu về hoạt động kinh doanh của các doanh nhân Việt Nam và thế giới. Tốt nghiệp phổ thông trung học, Đông Hương theo học chuyên ngành kinh tế, Đại học Stanford, Hoa Kỳ. Sang xứ người, Hương mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cộng đồng doanh nhân quốc tế.

"Rất bất ngờ là những doanh nhân nổi tiếng trên thế giới lại không từ chối trao đổi email, tư vấn, giúp đỡ những người trẻ từ các nước", Đông Hương tiết lộ. Từ "đặc ân" này, Hương bắt đầu nhem nhóm hy vọng bạn bè cùng trang lứa cũng có thể tiếp xúc với doanh nhân quốc tế để học hỏi và mạnh dạn hơn trong việc triển khai ước mơ của mình.

Cô trở thành thành viên tích cực của Hội Sinh viên khởi nghiệp tại Đại học Stanford (BASES), Hội Kinh doanh tại Đại học Stanford (SPBA), Mạng lưới Lãnh đạo Đông Nam Á (SEALNet)..., vừa học hỏi vừa tích lũy thêm kinh nghiệm.

Thỏa mãn khát khao

Ý tưởng của Đông Hương cũng là điều mà Nguyễn Xuân Thư, cô sinh viên chuyên ngành Kinh tế, Đại học Quốc gia Singapore (NUS), Trần Bình Ngọc, anh sinh viên chuyên ngành Công nghệ thông tin, NUS và cô sinh viên chuyên ngành Tâm lý, Đại học Green Mountain, Trần Nguyên Bạch Lan đang ấp ủ.

Có lẽ, điểm chung của nhóm bạn này là đam mê khởi nghiệp. Trong đó, Xuân Thư có lợi thế nhiều nhất bởi cô đã có kinh nghiệm làm việc tại một số quốc gia, từng nghiên cứu cách thức xây dựng môi trường khởi nghiệp bền vững tại các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển cũng như đã tham gia các khóa đào tạo về khởi nghiệp tại Đại học Stanford...

Hiện Thư đang làm việc tại Rocket Fuel, một công ty khởi nghiệp được trao tặng danh hiệu Công ty khởi nghiệp tốt nhất trong năm 2010. Sát cánh cùng Thư là Trần Bình Ngọc, đôi bạn này có nhiệm vụ phát triển mạng lưới VYE tại Singapore, gây quỹ và triển khai dự án cộng đồng trực tuyến.

Có trên hai năm kinh nghiệm làm việc tại những công ty khởi nghiệp khác nhau ở Hoa Kỳ và Singapore, Ngọc từng là nhân sự thứ sáu của một công ty khởi nghiệp tại Thung lũng Silicon (Hoa Kỳ), nên việc góp sức cho VYE không khó.

Ngày ra mắt VYE, ngoài 5 thành viên Ban điều hành còn có khá nhiều bạn trẻ tham gia. Sự nhanh nhẹn, năng động và nhiệt tình của người trẻ đã tạo nên ấn tượng sâu sắc nơi những doanh nhân tham dự.

Đánh dấu sự hiện diện của mình tại Việt Nam, VYE kết hợp với Đại học Quốc gia TP.HCM và Chương trình Đầu tư Công nghệ của Đại học Stanford tổ chức chương trình khởi nghiệp mang tên Thắp sáng.

Đây là một khóa học chuyên sâu kéo dài từ 18 - 24/8, dành cho các bạn trẻ Việt Nam đam mê khởi nghiệp. Tham gia giảng dạy trong chương trình là TS. Tom Kosnik, Giáo sư tại Đại học Stanford, cùng nhiều khách mời khác.

"Ngay khi biết chúng tôi triển khai chương trình giáo dục khởi nghiệp tại Việt Nam, TS. Tom Kosnik đã nhận lời tham dự và thiết kế hẳn giáo trình cho chương trình này. Trong mắt ông, người trẻ Việt Nam là đối tượng có sẵn đam mê lẫn tố chất để làm giàu", Xuân Thư tiết lộ.

Không chỉ TS. Tom Kosnik, những chuyên gia như TS. Wong Poh Kam, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà đầu tư Đông Nam Á, Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ Đại học Quốc gia Singapore và TS. Vũ Minh Khương, Giáo sư Trường Chính sách công Lee Kuan Yew thuộc NUS cũng đã cam kết đồng hành với VYE trong vai trò cố vấn.

Theo Thùy Trâm, Thắp sáng dành cho sinh viên thuộc mọi chuyên ngành, từ tự nhiên, công nghệ đến sáng tạo..., chứ không chỉ giới hạn ở nhóm sinh viên chuyên ngành kinh tế. Kết thúc khóa học, sinh viên có cơ hội tham gia cuộc thi Khởi nghiệp quốc tế tại Singapore và Đại học Stanford.

"Đây chính là "đặc sản" mà ngay cả doanh nhân trong nước cũng chưa thể làm được cho người trẻ", ông Trần Hữu Phúc Tiến, Giám đốc trung tâm Việt Nam Hợp Điểm, nhận định.

(Theo Doanh nhân SG cuối tuần)

Hiện thân của văn hóa doanh nghiệp đương đại


CEO nhiều lúc như con ngựa bất kham: xông xáo, bứt phá, thậm chí không tự kiềm chế. Họ cũng mắc nhiều sai lầm, nhưng mỗi lần vấp ngã họ lại lớn lên và đưa doanh nghiệp tiến xa hơn. Steve Jobs là người như vậy.

Tuy nghiệp vụ của các chủ doanh nghiệp và CEO chỉ cách nhau trong gang tấc, nhưng tầm nhìn và tư duy sáng tạo lại “một trời, một vực”. Mặc dù phải quản lý và điều hành doanh nghiệp theo chương trình kế hoạch của Hội đồng quản trị, những CEO còn phải có óc sáng tạo, năng động, không ngừng tìm cách đưa doanh nghiệp bứt lên, vươn xa hơn, luôn đi cùng (thậm chí đi trước) thời đại để cạnh tranh có hiệu quả với các đối thủ trên thương trường.

Steve Jobs sinh năm 1955 ở Green Bay, bang Wisconsin. Cha ông là Abdulfattah Jandali, người Sirya. Ngay từ nhỏ, Steve Jobs đã có tính cách khác người, ương bướng, ngang ngạnh, hiếu động, nhưng thông minh và luôn nghĩ ra những trò chơi khác lạ. Tốt nghiệp cấp 2 loại giỏi, nhưng Steve lại không muốn học cấp 3, buộc cha mẹ phải chuyển nhà tới California mới chịu vào học. Năm 1972, Jobs tốt nghiệp cấp 3 ở Cupertino, California và thuyết phục cha mẹ cho mình vào học một trường đại học đóng  phí rất cao, nhưng rồi chỉ học có một học kỳ là bỏ học và say sưa nghiên cứu về kỹ thuật máy tính. Bị cha mẹ mắng mỏ, trì triết, Steve Jobs quyết tâm tự tìm việc để sống.

Năm 1974, khi 19 tuổi, Steve Jobs tình cờ thấy trên báo đăng tải Công ty máy tính Atari cần tuyển người, Jobs tới xin phỏng vấn để vào làm việc. Kỹ sư trưởng Alcorn của  Công ty Atari nhớ lại: “Trưởng phòng  nhân sự nói với tôi rằng một thằng oắt con 19 tuổi ăn mặc kỳ dị như thằng hề của rạp xiếc tới xin việc xưng danh là Steve Jobs. Sau khi phỏng vấn, hắn ta cứ khăng nói rằng sẽ không rời khỏi đây nếu như công ty không nhận hắn vào làm việc. Thằng này chỉ có “ăn no vác nặng” chứ biết gì về kỹ thuật máy tính. Thế nhưng có một cái gì đó mách bảo tôi về sự khác thường của thanh niên này, nên tôi nói hãy đưa anh ta vào đây. Quả nhiên sau cái vẻ kệch cỡm bề ngoài, con người này toát lên một sức sống mãnh liệt và bầu nhiệt huyết khác thường, đầy chất sáng tạo... Vì vậy, tôi đã nhận Steve Jobs vào làm việc”.

Steve Jobs được giao viết các chương trình về trò chơi điện tử và quả nhiên anh đã hoàn thành xuất sắc và chẳng bao lâu được giao chức trưởng phòng thiết kế chương trình trò chơi.

Nolan Bushnell, người sáng lập hãng Atari, kể lại: “Mỗi khi có dự định mới về nâng cấp hoặc cải tiến chương trình, Steve Jobs thường làm kế hoạch đệ trình tôi theo thời gian biểu từng ngày hoặc từng tuần, chứ không phải là hàng tháng hoặc hàng năm. Tôi thích những mẫu người làm việc cụ thể chính xác như Steve. Điều tôi mến mộ Steve ở chỗ là cậu ta không bao giờ thỏa mãn với thành quả đạt được mà luôn luôn muốn tìm ra cái mới hơn, tốt hơn với giá thành hạ nhưng mang lại hiệu quả cao”.

Trong thời gian làm việc cho Atari, Steve Jobs đã làm quen với kỹ sư thiết kế Steve Wozniak, hai người rất ăn ý với nhau về thiết kế các chương trình. Sau đó Jobs sang Ấn Độ cùng người bạn học là Dan Kottke để nghiên cứu các chương trình phần mềm mới về các trò chơi điện tử ở cấp độ cao hơn, sinh động hơn. Sau khi về Mỹ, Jobs thuyết phục Steve Wozniak rời khỏi Hewlett Packard để cùng nhau nghiên cứu sản xuất máy tính cá nhân (PC).

Đúng vào “ngày nói dối” 1/4/1976, Steve Jobs (21 tuổi) và Wozniak (26 tuổi) đã hùn vốn thành lâp Công ty máy tính Apple (Apple Computer Co.) Chiếc PC đầu tiên của Apple được sản xuất và ra đời trong garage ôtô của gia đình Steve Jobs và bán được 666,66 USD.

Năm 1980, Apple cho ra đời phiên bản thứ PC 3 (version 3) đã được cải tiến và hoàn thiện, đồng thời Aplle lên sàn giao dịch chứng khoán và phát hành cổ phiếu với giá 22 USD/một cổ phiếu, bán rất chạy trên thị trường. Jobs và Wozniak trở thành triệu phú.

Nhưng “ngày vui ngắn chẳng tày gang”, mâu thuẫn giữa Jobs và Wozniak nảy sinh. Trong hồi ký của mình, Wozniak viết: “Sau đó Steve Jobs trở nên kỳ quặc, không nghiên cứu gì thêm và cũng không ngó ngàng gì tới việc quản lý công ty cũng như tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Mọi người chẳng biết Jobs làm gì ở trong phòng, thỉnh thoảng Steve Jobs xuất hiện trước mọi người, nhưng ăn nói kiêu ngạo. Chính vì vậy, mọi người đều xa lánh Steve và tất cả những phiên bản mới, cũng như phát minh mới đều không cho anh biết. Bởi vì, Steve Jobs giờ đây là người không đáng tin cậy của Apple, thậm chí có lúc anh ta  còn lừa dối cả tôi, bao giờ cũng chỉ muốn mình được chia phần nhiều hơn”. Wozniak viết: “Nổi nóng, cáu bẳn, kiêu ngạo, cố chấp, buồn vui thất thường là đặc tính của Steve Jobs khi đó. Chính vì vậy mà anh ta đã gây sự với đa số nhân viên của Apple. Cuối cùng Hội đồng quản trị đã bãi chức và tước bỏ mọi chức quyền của Steve Jobs, khai trừ anh ta ”.

Sau khi buộc phải rời khỏi Apple, Steve Jobs từng ân hận nói: “Tôi bắt đầu tỉnh ngộ và hối hận về tính kiêu căng ngạo mạn của mình. Sau khi làm cha, tôi mới thấy mình chững chạc hơn và khiêm tốn hơn. Văn hóa kiêu căng ngạo mạn là điều tối kỵ đối với một chủ doanh nghiệp cho dù anh ta có đầu óc sáng tạo như thế nào. Sau vấp ngã này, tôi quyết tâm trở lại Tiểu vương quốc máy tính của tôi và cải tạo lại thế giới máy tính”.

Steve Jobs cho biết thời gian ở Apple, anh đã ấp ủ một kế hoạch lớn hơn, sáng tạo hơn, có thể cải tạo và xoay chuyển được một doanh nghiệp đang lâm vào khó khăn phá sản. Bởi vì khi đó, Steve Jobs cho rằng Apple bắt đầu mắc nhiều sai lầm trong chiến lược kinh doanh, đã tới lúc phải thay đổi lại cơ cấu. Steve Jobs nói “Tôi tự cải tạo mình và cải tạo cả thế giới máy tính”. Anh bắt đầu nghiên cứu và cho ra đời các máy tính hiện đại hơn như NeXT Computer.

Năm 1986, Steve Jobs mua lại Công ty hoạt hình kỹ thuật số Pixar và cho ra đời hàng loạt chương trình bán rất chạy trên thị trường. Trong lúc này, Apple bắt đầu rơi vào khó khăn, đứng trước nguy cơ phá sản do sai lầm của Wozniak và Giám đốc điều hành Scott. Năm 1996, Apple đã mời Jobs trở về làm cố vấn sau khi Apple tiến hành cải cách ban lãnh đạo. Chưa đầy một năm làm việc, Jobs đã vực Apple từ bờ vực thẳm phá sản trở lại sức sống mãnh liệt. Tháng 9/1997 Jobs trở thành CEO của Apple và tới Quí 4/1998, chưa đầy một năm sau, Jobs đã làm cho Apple thu về lợi nhuận tới 109 triệu USD. Kể từ đó tới nay Jobs đã đưa ra 7 đột phá công nghệ lớn làm cho Apple trở thành công ty máy tính hàng đầu thế giới hiện nay.

Trong cuộc đời, con người đều mắc sai lầm, vấp ngã, nhưng điều quan trọng là sau khi vấp ngã họ đã lấy lại nghị lực như thế nào để tiếp tục đứng dậy và tiến lên. Steve Jobs là con người như vậy. Mắc nhiều lỗi lầm, vấp ngã, nhưng anh không hề nản chí, ngược lại còn quyết tâm hơn trước. Một chủ doanh nghiệp cần có tố chất như Steve Jobs  thì mới có thể đưa doanh nghiệp tiến lên và đứng vững trước sóng gió cạnh tranh trên thương trường. Đó chính là văn hóa doanh nghiệp ngày nay.

(Nguồn: Tầm nhìn)

Hiệu trưởng Trường Harvard Kennedy: "Lãnh đạo phải biết thừa nhận sai lầm và sửa sai"


Điều nguy hiểm nhất đối với chính phủ là làm mà sợ sai, cuối cùng đi đến không làm gì cả. Những chính phủ thông minh, những con người thông minh là biết chấp nhận, thừa nhận sai lầm, rút kinh nghiệm và đứng lên - Hiệu trưởng trường Harvard Kennedy, GS David Ellwood nói.

Trao tự chủ, độc lập cho giảng viên, học viên

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Tại trường quay VietNamNet, GS. David Ellwood, Hiệu trưởng Trường Harvard Kennedy school, trường quản lý nổi tiếng của nước Mỹ và của thế giới đã có mặt để cùng đàm luận với bạn đọc, độc giả, thính giả VietNamNet. Rất nhiều câu hỏi của bạn đọc đã được gửi đến với GS. David Ellwood. Chúng tôi xin chọn lựa một câu đầu tiên. Thưa ông, ông và trường Harvard Kennedy schoool đã làm gì, đã có chiến lược gì để tạo ra một trường đào tạo quản lý nhà nước hàng đầu của nước Mỹ và hàng đầu thế giới?

GS David Ellwood: Trường Harvard Kennedy là một thành viên của trường Đại học Harvard  và chúng tôi là một nơi rất đặc biệt. Tất cả mọi người đến với trường Harvard Kennedy đều có một mục tiêu chung là làm sao để có một thế giới tốt hơn. Họ có chung một nguyện vọng, có một hoài bão lớn hơn những mục đích cá nhân của mình, đặt lợi ích của cộng đồng, của khu vực công lên trên hết. Mục tiêu đó là vì một thế giới tốt hơn.

Tôi có thể nói có 4 yếu tố làm trường Harvard Kennedy trở thành trường đào tạo hàng đầu.
- Một là, lãnh đạo, không chỉ dừng lại ở chỗ tạo cảm hứng mà lãnh đạo phải có một sự cam kết nghiêm túc.
- Hai là, giải quyết những vấn đề thông qua những kỹ năng, thông qua những công cụ tốt, với những hoạt động phân tích chất lượng cao.
- Thứ ba là đưa cho học viên tiếp cận trực tiếp với những ý tưởng mạnh, ý tưởng mới về những vấn đề nóng bỏng trong khu vực công hiện nay, tức là đưa họ đi với thực tiễn.
- Thứ tư, trường Kennedy là nơi đến của rất nhiều sinh viên từ rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ nhiều quốc gia khác nhau. Tất cả các sinh viên của trường Kennedy đến từ hơn 120 quốc gia, tham gia học tập rất nhiều chương trình khác nhau. Chúng tôi tin tưởng là việc học viên học tập lẫn nhau vô cùng quan trọng, tôn trọng nhau, tạo cảm hứng cho nhau, học tập lẫn nhau.

Như vậy đã tạo thành 4 yếu tố trụ cột của trường Kennedy, đó là: 1/ tạo cảm hứng, 2/ Có kỹ năng, năng lực, 3/ tiếp xúc với những ý tưởng mạnh, với thực tiễn; 4/ học hỏi lẫn nhau với một môi trường rất đa dạng.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Tôi có một ý kiến bình luận thêm là có lẽ ngoài những điều đó, còn là những giáo sư mà ông chưa nói tới, đó là những giáo sư xuất sắc, có tầm nhìn và đặc biệt là những giáo sư có nhân cách mà những nhà báo VietNamNet đã có điều kiện tiếp xúc, phỏng vấn, đã đến VN như giáo sư Thomas Patterson, giáo sư Joseph Nye, rồi sự hiện diện của trường Fulbright tại VN là một cánh tay kết nối với trường Kennedy, với Tom Vallely, với GS David Dapice... với đội ngũ được đào tạo từ trường Kennedy School để về Fullbright giảng dạy để tạo ra một chương trình có ý nghĩa và gần như là chương trình đào tạo quản lý tốt nhất ở VN hiện nay trong quản lý nhà nước.

GS David Ellwood: Tôi nghĩ rằng đó cũng là một trong những điều kiện. Đó là lý do vì sao tôi nói với anh là tôi tin tôi là người có được một công việc tốt nhất trên thế giới.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Theo quan sát của tôi, nhiều giáo sư có uy tín, có danh vọng họ nghĩ đến việc làm sao kiếm tiền nhiều hơn, xem các bài viết, bài giảng như một cuộc đàm phán để giành thu nhập cao. Tuy nhiện, trường Harvard Kennedy, tôi cảm nhận rằng các giáo sư không nghĩ đến việc đó nhiều, họ nghĩ đến việc dâng hiến cho cộng đồng. Vậy trường Kennedy đã làm thế nào để tạo ra đội ngũ lãnh đạo có tính hiến dâng, không chạy theo vụ lợi nhiều như ở những trường khác?

GS David Ellwood: Trước hết, tôi muốn nói là anh hoàn toàn đúng và đó là lý do mà tôi muốn nhấn mạnh tất cả những người đến với trường Harvard Kennedy đều tin rằng mình muốn tạo ra một thế giới tốt hơn. Họ nghĩ đến những lợi ích nằm ngoài lợi ích cá nhân của mình.

Nhiều người cũng nói với tôi rằng nếu tin vào cái đó, tin có thể làm thế giới tốt đẹp hơn thì rất ngây thơ, và tôi đã đáp lời, tôi rất hạnh phúc được lãnh đạo một đội ngũ giảng viên rất thông minh nhưng cũng rất ngây thơ.
Đó là một cái yếu tố mà chúng tôi tìm kiếm ở những giảng viên mà chúng tôi muốn mời về trường Kennedy.
Khi tuyển các giảng viên, không phải những giảng viên ấy đến trường Kennedy để tìm kiếm 1 mức lương cao nhất, nhưng mà mức lương cũng phải là quan trọng, bởi vì giảng viên họ cũng quan tâm đến mức lương ở một chừng mực nào đấy, nhưng câu hỏi quan trọng thường tôi đưa ra cho họ đó là tôi hỏi họ anh hay chị có cảm thấy đây là một thời đại không thể tin được trên thế giới, có phải là tuyệt vời không nếu chúng ta đưa vào một cái môi trường mà chúng ta có thể giải quyết được những vấn đề nóng bỏng nhất, bức xúc nhất của thế giới, và nếu chúng ta làm được như vậy thì có phải là tốt hay không? Và khi họ trả lời là đúng và muốn tham gia thì đấy là những người chúng tôi muốn mời.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Thực tế là ý tưởng của trường Harvard Kennedy rất mong muốn đem đến điều tốt đẹp và đang sống với những tâm niệm, những hoài bão tốt đẹp, những ước mơ tốt đẹp, nhưng trong thực tế cuộc sống, trong đời sống chính trị nước Mỹ và thế giới hiện nay thì các nhà lãnh đạo cũng đang có những vấn đề về tha hóa về nhân cách về lối sống. Không chỉ lãnh đạo trong chính quyền, chính phủ mà lãnh đạo trong các tổ chức đòi hỏi nhân cách rất cao như tôn giáo cũng đã bị tha hóa, ngay cả tại nước Mỹ hay trên thế giới cũng thế. Thậm chí các nhà lãnh đạo tôn giáo Thiên Chúa Giáo cũng đã bị phát hiện tội lạm dụng tình dục trẻ em, rồi rất nhiều những hành vi thiếu nhân cách. Đây là vấn đề phải chăng xã hội ngày hôm nay, thế giới ngày hôm nay đang đặt ra vấn đề xem xét nhân cách các nhà lãnh đạo hay không? Dưới góc độ một nhà lãnh đạo một trường quản lý nhà nước, một trường quản lý nổi tiếng ông nhìn nhận vấn đề tha hóa nhân cách đạo đức của giới lãnh đạo hôm nay như thế nào?

GS David Ellwood: Tôi rất là quan ngại. Có lẽ lần đầu tiên tôi cảm thấy rất lo ngại trước một vấn đề rất là thách thức lãnh đạo đặt ra như vậy.

Chúng ta đang phải ứng phó với rất nhiều những cái vấn nạn rất nóng bỏng nhưng mà dường như các lãnh đạo không đứng ra để mà giải quyết những vấn nạn đó, họ không sẵn sàng trao đổi với những người xung quanh với các bên để giải quyết những vấn đề nóng bỏng này.

Nhưng tôi có 2 lý do để chúng ta có thể lạc quan. Thứ nhất về vấn đề cơ cấu, tổ chức thì một số vấn đề trục trặc hiện nay mà chúng ta quan sát thấy thì đó là do bộ máy nhà nước chính phủ hay doanh nghiệp được cấu trúc, tạo ra những rào cản để mà những người lãnh đạo không phản ứng được trước những cái thách thức. Đôi khi, cả báo chí truyền thông cũng đòi hỏi, cũng đặt ra những cái giới hạn rất lớn cho những nhà lãnh đạo này.

Tôi cho rằng chúng ta cũng có thể xử lý được, điều chỉnh được về mặt cơ cấu tổ chức.
Nhưng một lý do lớn hơn tôi thấy rất lạc quan đó là những con người trẻ trung tài năng hiện nay đang theo học lĩnh vực chính sách công tại trường Kennedy đều tuyệt vời, đầy nhiệt huyết. Không ai đến Harvard Kennedy để làm giàu cả. Nếu như đặt mục tiêu làm giàu thì họ có nhiều cách khác.

Họ đến đây bởi họ tin họ có được những ý tưởng mới, kỹ năng mới và họ đều có chuẩn mực đạo đức rất cao để mà có thể đóng góp sau này trong tương lai.
Anh cũng ở trường Harvard rồi thì anh cũng có thể thấy sinh viên của trường ấn tượng như thế nào và tôi cũng vinh dự được đi vòng quanh thế giới, gặp những sinh viên đã tốt nghiệp từ trường Kennedy, thấy được những thành tựu họ đạt được trong công việc của họ.


Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Lãnh đạo hôm nay đòi hỏi những phẩm chất mới vì thế giới hôm nay đã đổi thay, vậy trường Kennedy sẽ giúp sức gì những chương trình học, những tư duy nào mới để tạo nên một thế hệ lãnh đạo mới giải quyết những thách thức mới như chúng ta vừa nêu?

GS David Ellwood: Để đạt được điều đó, có thể nói trường luôn luôn ở tiền tuyến của tất cả những vấn đề khó khăn, những vấn đề nóng bỏng cần giải quyết.

Thứ nhất là ở đội ngũ giảng viên của trường. Quyết tâm của họ là tập trung giải quyết những vấn đề hóc búa nhất, đưa ra những ý tưởng mới để giải quyết những vấn đề này. Họ tập trung nghiên cứu những vấn đề hàng đầu.

Thứ 2, cũng rất quan trọng đó là làm sao để những hoạt động nghiên cứu, những giảng viên ấy có một sự gắn kết chặt chẽ với kinh nghiệm thực tiễn đang xảy ra.

Không phải ngẫu nhiên khi anh có nhiều dịp phỏng vấn những giảng viên, giáo sư của trường Harvard Kennedy bởi họ luôn luôn muốn đi ra thế giới, muốn gắn kết với kinh nghiệm thực tiễn. Tất cả trong số họ sẽ không ai nói rằng họ là chuyên gia về VN, nhưng họ vẫn đến VN để tìm hiểu.

Ngay cả tôi trong chuyến đi ngắn ngủi này cũng học được rất nhiều điều, rất nhiều ý tưởng mới và tôi sẽ mang trở lại nhà trường.
Do vậy ý tưởng tạo một sự khác biệt, tạo một sự thay đổi rất quan trọng. Có ý tưởng mới chưa phải là tất cả. Ý tưởng đó phải thiết thực.
Một điểm nữa tôi muốn nói về vấn đề lãnh đạo, đó là tuyển dụng những giảng viên, những giáo sư tốt, tuyệt vời. Sau đó phải để họ có thể nghiên cứu, để họ có thể hoạt động một cách độc lập.

Một đặc điểm rất tuyệt vời của hệ thống GD Hoa Kỳ trong đó có trường Harvard đó là sự độc lập, để cho các giảng viên, giáo sư, để cho các học viên tự ra quyết định của họ, nghiên cứu vấn đề gì là thích hợp với họ. Là lãnh đạo nhà trường tôi không bắt các giảng viên phải nghiên cứu vấn đề này, phải làm cái này, tôi có thể gợi ý đây có thể là những vấn đề thú vị, đây có thể là những nguồn nguồn kinh phí có thể tài trợ cho những hoạt động nghiên cứu đó, nhưng quyết định cuối cùng, sự tự chủ cuối cùng là thuộc về các giảng viên.

Bạn Lê Hồng: Trong môi trường lãnh đạo ở Việt Nam, đội ngũ lãnh đạo trẻ cũng đã trang bị nhiều lý thuyết làm lãnh đạo. Tuy nhiên, ví dụ như trong môi trường giáo dục không nhiều nhà lãnh đạo thành công. Vậy theo giáo sư, có cần có những khóa học tư vấn trực tiếp tại môi trường làm việc của họ để kết hợp áp dụng lý thuyết dạy làm lãnh đạo và thực tiễn phức tạp mà họ phải đương đầu?

GS David Ellwood: Theo tôi, cả lý thuyết lẫn thực tiễn đều quan trọng, vấn đề là kết nối được cả hai. Đó là cái việc chúng tôi làm ở trường Harvard Kennedy. Chúng tôi áp dụng cách dạy gọi là "Nghiên cứu tình huống" , phát triển nghiên cứu tình huống từ những tình huống thực tiễn, đưa vào trên lớp để các học viên cùng mổ xẻ, phân tích các tình huống đó.

Một việc chúng tôi sẽ làm sau chuyến đi này là viết về một tính huống nghiên cứu về Việt Nam, phản ứng của Việt Nam trong đại dịch cúm gà, Việt Nam đã phản ứng như thế nào? Việt nam đã chấp nhận hy sinh, mặc dù phải giết gà, mặc dù phải phong tỏa, nhưng phản ứng nhanh như vậy đã giúp Việt nam ngăn chặn được dịch cúm.

Trong quá trình nghiên cứu ở các trường đại học, người ta đã thấy học hiệu quả nhất là bằng cách anh đi làm và như vậy, ở trường chúng tôi phát triển rất nhiều các đợt thực tập cho học viên. Học viên học chương trình thạc sỹ, sau khi hoàn thành khóa học và làm luận văn, chúng tôi cũng có những bài tập lớn gọi là phân tích chính sách và học viên phải liên hệ với một khách hàng thực tiễn. Tức là một khách hàng, một tổ chức họ có một vấn đề gì trục trặc, khó khăn họ đặt ra cho học viên và học viên phải giải quyết các vấn đề thực tiễn đó trong luận văn của mình.

Một vấn đề nữa, theo tôi là sai lầm nếu chúng ta đào tạo quá sâu vào một vấn đề đặc thù, hẹp, mà dạy kỹ cho sinh viên. Cái điểm quan trọng là dạy cho sinh viên khả năng linh hoạt, khả năng áp dụng những ý tưởng mới, bởi vì không thể ai trong cả cuộc đời mình chỉ làm mỗi một việc cả. Vì vậy, ảnh phải đào tạo mở rộng, đào tạo linh hoạt, chứ không nên đào tạo cho sinh viên chỉ chú trọng vào một số kiến thức rất là hạn hẹp.

Lãnh đạo phải biết hỏi và biết nghe

Bạn Nguyễn Mạnh Hùng (Hà Nội): Trong thời đại ngày hôm nay theo ông thế nào là một nhà lãnh đạo giỏi. Để trở thành nhà lãnh đạo tốt, trình độ học thức có quan trọng hay không, hay chỉ biết cách giao tiếp lấy lòng mọi người là được.

GS David Ellwood: Những nhà lãnh đạo lớn, những nhà lãnh đạo tuyệt vời họ rất khác nhau nhưng ở đây tôi xin đưa ra những đặc điểm để tạo ra những nhà lãnh đạo lớn.

Thứ nhất, theo tôi nhà lãnh đạo phải có một lý tưởng lớn, phải có một tầm nhìn và quyết tâm để đạt được lý tưởng và tầm nhìn đó. Ví dụ như lý tưởng tạo ra một thế giới tốt hơn.

Thứ hai, là phải có sự sáng suốt, phải có tri thức và dùng sự sáng suốt, trí thức đấy của mình để ra quyết định một cách dũng cảm.

Thứ ba, đó là một nhà lãnh đạo biết nghe. Đôi khi chúng ta nghĩ chúng ta thông minh, chúng ta làm ra mọi thứ, chúng ta chỉ người khác phải làm. Nhưng theo tôi, một nhà lãnh đạo phải là một người biết hỏi để người khác đưa đến câu trả lời cho mình.

Thứ tư, đó là nhà lãnh đạo phải biết khiêm tốn về năng lực và khả năng của mình, bởi vì mình không thể làm được tất cả, mà quan trọng là anh phải tạo ra được sự hậu thuẫn, tập hợp được nguồn lực tập thể để giúp anh đạt được cái lý tưởng của mình.

Tôi cho rằng, nhà lãnh đạo không chỉ phụ thuộc vào mối quan hệ cá nhân, hay cái mạng lưới của mình, cho dù trong công việc họ đương nhiên sự dụng những mối quan hệ đó.

Có lẽ tôi tóm lại 5 ý như thế này: Thứ nhất là phải có lý tưởng và đạo đức. Thứ hai là phải có tư duy sáng suốt và thông minh để ra quyết định đúng đắn. Thứ ba là biết lắng nghe cộng với khiêm tốn. Thứ tư là có sự dũng cảm để nói lên sự thật. Thứ năm là có quyết định kiên quyết khi cần phải làm là làm.

Bạn Đinh Việt HòaChuyên gia về lãnh đạo đã chỉ ra rằng, lãnh đạo là ảnh hưởng không hơn không kém và thay đổi lãnh đạo là thây đổi tổ chức. Vậy theo ông, người dân Việt Nam phải đưa ra cho mình những tiêu chí nào để tạo ra nhà lãnh đạo có thể tạo ảnh hưởng tích cực để phát triển Việt Nam mạnh mẽ hơn?

GS David Ellwood: Thực chất những tiêu chí của nhà lãnh đạo Việt Nam cũng giống những tiêu chí như tôi vừa trình bày, cũng là có lý tưởng, có tầm nhìn; có sự sáng suốt để ra quyết định đúng đắn; khiêm tốn và biết lắng nghe; dũng cảm để nói lên sự thật và mạnh mẽ để có thể làm được việc.

Một điểm nữa tôi cũng muốn đề cập là một nhà lãnh đạo cần phải hiểu biết thế giới. Nhà lãnh đạo phải biết những gì đang diễn ra trên thế giới và giải pháp người ta đã đưa ra nhiều nơi khác nhau. Không thể nào anh ngồi một chỗ ở một địa phương, một thành phố để anh có được tất cả mọi giải pháp. Anh phải nắm được cái đó bằng cách anh phải kết nối với thế giới.

Không vì sợ sai mà không phản ứng

Bạn đọc Nguyễn Việt Hưng - Nha TrangTrong cuộc sống có thất bại mới có thành công, tuy nhiên đối với lãnh đạo một quyết định sai lầm gây ra tổn thất rất lớn. Vậy lãnh đạo có quyền sai lầm hay không?  Và lâu dài, hình thức sửa sai phải áp dụng ra sao?

GS David Ellwood: Thực tế là phải cho phép nhà lãnh đạo mắc sai lầm. Không thể nào không cho phép nhà lãnh đạo mắc sai lầm cả.

Năm nào khi ở trường Kennedy tốt nghiệp tôi cũng có một bài phát biểu diễn văn nói chuyện với các sinh viên tốt nghiệp và năm nào trong bài diễn văn tôi cũng có một cái ý như thế này: Cơ quan không gian và vũ trụ Hoa Kỳ NASA có một câu cửa miệng dán ở khắp nơi: Thất bại không phải là lựa chọn.

Nếu cứ khăng khăng rằng anh làm mà không bao giờ gặp thất bại là chứng tỏ anh không chấp nhận rủi ro.
Theo tôi, đối với các tổ chức, điều nguy hiểm nhất đối với chính phủ là làm mà sợ sai, cuối cùng đi đến không làm gì cả và không phản ứng. Những chính phủ thông minh, những con người thông minh là họ chấp nhận sai lầm để đứng lên.

Tôi nghĩ điều không được phép làm đó là không chịu học, không chịu rút kinh nghiệm, bài học từ thất bại.  Chúng ta phải nhận ra thất bại, thừa nhận thất bại đó, và rút ra bài học và sửa sai từ những sai lầm đó.

Lãnh đạo phải duy trì sự gắn kết với dân

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Trong mỗi lễ tốt nghiệp ông đều có một diễn văn, có một thông điệp. Năm nay những sinh viên tốt nghiệp, ông có dự kiến gì đưa ra với họ không?

GS David Ellwood: Năm nào gần đến lễ tốt nghiệp, tôi cũng rất khó khăn khi đưa ra một cái gì đó hữu ích để nói trong bài diễn văn tốt nghiệp cho các học viên. Tôi nhớ lại bài diễn văn tốt nghiệp hè vừa rồi có một thông điệp tôi có nói với các học viên: Bây giờ một người nhìn ra thế giới có vẻ nản lòng, vì nhận thấy có nhiều vấn đề đang xảy ra trên thế giới và có vẻ như các nhà lãnh đạo không quan tâm và không đủ sức để giải quyết những cái vấn nạn đó. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu, biến đổi khí hậu, dịch cúm, vấn đề về năng lượng, bất bình đẳng, khan hiếm lương thực... khiến nhiều người thất vọng và chán nản. Thực tế như vậy, nhưng tôi nói với sinh viên, tôi nhìn vào chính các anh các chị thấy không chán nản nữa, các anh các chị là niềm tin và tương lai.

Một thông điệp nữa tôi có đề cập, đó là nhà lãnh đạo luôn luôn phải nhớ tới, phải giữ lấy khía cạnh con người của mình, đặc biệt là khi chúng ta đã đưa lên cái vị trí cao cấp, có một quyền lực cao và có thể chúng ta sẽ đánh mất cái khía cạnh ấy.

Phải nhớ lại hoài bão của một ngày nào đó là khi mình lên vị trí lãnh đạo, nhìn thấy một đưa trẻ bỏ đói thì mình phải làm một cái gì đó; nhìn thấy hệ thống đê điều bị vỡ thì mình phải tìm cách xử lý nó.

Tôi thấy điều quan trọng của nhà lãnh đạo là phải luôn luôn duy trì sự gắn kết của mình với người dân, bản chất nhân văn của mình phải kết nối với những người dân bình thường; phải kết nối với đối thủ trong hệ thống chính trị và phải tìm được tiếng nói. Đấy là những thông điệp mà tôi đưa ra.

Bạn Mỹ Hòa: Trong đợt bầu cử Đảng dân chủ Nhật vừa qua, có nhiều ý kiến tranh luận nên bầu cho ông Naoto Kan, một người có lý lịch trong sạch hay cho ông Ichiro Ozawa, được xem là người đàn ông của bóng tối. Có ý kiến cho rằng, nếu nước Nhật liều chọn ông Ozawa thì mới có thể tạo ra được sự khác biệt, thay vì chọn con đường bằng phẳng là ông Naoto Kan. Ý kiến của ông thế nào? Và trong những giai đoạn cần sự thay đổi quyết liệt thì người lãnh đạo cần có phẩm chất ra sao mới phù hợp được?

GS David Ellwood: Đúng là Nhật Bản cần phải có một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và quyết đoán, nhưng vẫn phải trong sạch.

Tôi thì không muốn đưa ý kiến đánh giá cá nhân của mình đối với các nhà lãnh đạo của các nước, đặc biệt là Nhật Bản, vì tôi không ở bên trong để đánh giá. Nhưng có một điểm ở đây chúng ta có thể nhận thấy rằng, không có gì là không nhất quán giữa chuyện anh vừa có năng lực lãnh đạo một cách quyết đoán, nhưng anh cũng vừa cởi mở, minh bạch, trong sạch. Hai khía cạnh phẩm chất đó nó không loại trừ lẫn nhau.

Lãnh đạo giỏi phải dám đưa ra những quyết định khó khăn

Bạn Tấn Lâm: Làm thế nào để chọn được người lãnh đạo giỏi, yếu tố nào là quyết định nhất? Yếu tố nào là không thể thiếu được và yếu tố nào là yếu tố phụ? Giáo sư có thể giúp cho các quốc gia có chế độ khác nhau được hay không?

GS David Ellwood: Đấy cũng là một thách thức rất lớn để làm sao phát hiện ra được nhà lãnh đạo tốt.
Như ở đầu buổi phỏng vấn này tôi đã nói đến những phẩm chất của một nhà lãnh đạo tốt: có lý tưởng, có sự sáng suốt trong ra quyết định, khiêm tốn, dũng cảm và mạnh mẽ. Làm sao để phát hiện ra những phẩm chất đó, làm sao để phát hiện ra những nhà lãnh đạo giỏi thì theo tôi nên nhìn vào kinh nghiệm quá khứ của học để xem họ đã làm được những gì, để xem họ đã vượt qua được những thách thức gì.

Như đầu buổi, có câu hỏi là các nhà lãnh đạo được phép thất bại hay không, thì đấy cũng là một hướng để pháp hiện ra các nhà lãnh đạo, đó là xem những thất bại trước đây của họ là như thế nào. Nhưng quan trọng hơn là xem họ đã khắc phục những thất bại ấy ra sao.

Đôi khi, ta nên hỏi họ là thất bại lớn nhất của họ trong quá khứ là như thế nào? Nếu có người trả lời thất bại lớn nhất của họ là họ làm việc quá tích cực. Theo tôi người trả lời như vậy thì đó không phải là người lãnh đạo tốt. Một nhà lãnh đạo tốt, khi gặp câu hỏi đó họ sẽ đơn cử một cái thất bại rất là lớn, có ý nghĩa trong cuộc đời của họ và họ sẽ đi sâu vào phân tích họ đã rút ra được những bài học như thế nào và khắc phục nó trong tương lai ra sao.

Tôi cũng nói đùa một câu là, nếu muốn phát hiện ra một nhà lãnh đạo tốt thì xem xem họ đã học ở trường Harvard Kennedy chưa?

Bạn Tony: Việt Nam rất thiếu những nhà lãnh đạo có thể dẫn dắt vượt qua thách thức tham nhũng, quan liêu... Trong ý kiến của ông, những nhà lãnh đạo Việt Nam phải làm gì để tại nên một thế hệ tương lai có nhân cách và tài năng?

GS David Ellwood: Tôi không biết nhiều về Việt Nam để có thể đưa ra câu trả lời cụ thể là Việt Nam nên tuyển chọn các nhà lãnh đạo như thế nào, nhưng tôi chỉ có bình luận như thế này: ở rất nhiều nơi thì người dân luôn chỉ trích quốc gia của mình không có những nhà lãnh đạo tốt, không có những nhà lãnh đạo hữu hiệu.
Theo tôi chuyện một quốc gia có nhà lãnh đạo tốt hay không chính là phụ thuộc ở người dân. Người dân có tập trung, tạo điều kiện để có được những nhà lãnh đạo đó hay không.

Chúng ta đều biết, để đóng vai trò lãnh đạo đó  rất khó khăn. Những nhà lãnh đạo để làm tốt công việc của mình thì phải đưa ra những quyết định khó khăn, làm nhiều người tức giận, phản đối. Khi họ đưa ra những quyết định đó, liệu chúng ta có ủng hộ ho hay không?

Nhiều lúc chúng ta cũng cần phải hỗ trợ, ủng hộ những nhà lãnh đạo để họ thực hiện những quyết định khó khăn vì lợi ích chung của cả đất nước.

Khi có lí tưởng lớn, các lãnh đạo có thể chung tay xử lí mọi thách thức

Bạn Hoàng MinhTrong bối cảnh vị trí nước Mỹ đang bị thách thức với sự nổi lên của Trung Quốc, trách nhiệm của các cán bộ quản lí, các nhà lãnh đạo Mỹ ra sao trong việc vực dậy niềm tự hào nước Mỹ để mỗi người dân Mỹ hành động vì vị trí của nước Mỹ trên thế giới?

GS David Ellwood: Thủ tướng Anh  Wilson Churchill đã có một lần nói rằng chúng ta luôn luôn có thể đặt niềm tin vào nước Mỹ có thể sẽ làm cái đúng, nhưng họ chỉ làm cái đúng sau khi đã thử làm tất cả những cái khác. Hoa Kỳ cũng là một nơi đặc biệt, một xã hội rất năng động, có lúc Hoa Kỳ đi lên, có lúc đi xuống, có lúc người ta thấy rằng là Hoa Kỳ là một đất nước thật vĩ đại, thật tuyệt vời, có lúc người ta nhìn Hoa Kỳ như một nơi rất độc ác, rất xấu xa.

Hiện nay đúng là thời điểm rất khó khăn thách thức đối với Hoa Kỳ. Khủng hoảng đang diễn ra. Nhiều người lo lắng về việc chính phủ có giải quyết đuợc các vấn đề khó khăn như vậy hay không về mặt toàn cầu thay đổi cán cân quyền lực.

Nhưng Hoa Kỳ là một nơi có đặc điểm là người dân luôn tin vào mình, là nơi rất năng động, một nơi cởi mở. Mọi người đều nhìn thấy Hoa Kỳ khó khăn như vậy nhưng mọi người đều biết tự Hoa Kỳ sẽ điều chỉnh và sẽ trỗi dậy.

Đương nhiên không phải Hoa Kỳ sẽ là siêu cường độc tôn chiếm ưu thế mãi mãi như trước, và điều đó hoàn toàn bình thường nhưng vấn đề là quốc gia, đất nước sẽ thay đổi, điều chỉnh và vươn lên.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Ông Thom Friedman Economist của Newyork Time có nói vấn đề ở thế hệ các ông là luôn đối mặt với các thách thức lớn, vấn đề lớn vì thế mà suy nghĩ tầm lớn, được giáo dục về sự hi sinh và sự phấn đấu, sự dâng hiến là để đưa nước Mỹ là số 1. Trong khi đó người ta không tìm thấy điều này ở thế hệ trẻ nước Mỹ ngày hôm nay. Các giá trị Mỹ trong giới trẻ dường như đang bị giảm sút. Vậy trách nhiệm của ngôi trường nhu Kennedy làm thế nào để tạo dựng một thế hệ mới xứng đáng cho nước Mỹ trong tương lai?

GS David Ellwood: Tôi chưa được đọc bài đó của ông Thom Friedman. Thông thường tôi rất đồng tình với các quan điểm của ông Thomas Friedman. Nhưng nếu như ông Thomas Friedman nói như vậy thì tôi sẽ phải nói là tôi không đồng ý với ông.

Tôi nhận thấy giới trẻ ở Hoa Kỳ hiện nay họ vẫn nhiệt huyết, vẫn nhiệt tình, vẫn tin vào tương lai. Hoa Kỳ có 1 phụ nữ tên là Wendy Craff  xây dựng chương trình gọi là dạy học vì nước Mỹ. Đó là một chương trình khuyến khích các sinh viên mới tốt nghiệp đại học tham gia dạy học ở các vùng, các trường ở những vùng nghèo nhất nước Mỹ trong vòng 2 năm với mức lương hầu như không có gì cả. Một chương trình như vậy mà rất nhiều các sinh viên tốt nghiệp đã đăng kí tham gia. 15% sinh viên tốt nghiệp ở đại học Harvard đăng kí tham gia, thể hiện một sự nhiệt tình muốn đóng góp.

Giới trẻ hiện nay có rất nhiều những ý tưởng mới rất mong muốn đóng góp. Nhiều lúc tôi lo ngại thế hệ như  tuổi chúng tôi nhiều lúc cũng tự thỏa mãn, nhiều lúc nghĩ rằng như thế đã đủ rồi. Thế hệ trẻ ngày nay họ có nhiều hoài bão, có những lí tưởng rất lớn. Đôi khi họ không hiện thực, họ không đi sát với thực tế nhưng mà cái lý tưởng của họ thì đáng khâm phục.

Tôi cũng thấy điều đó ở Việt Nam, Việt Nam là một đất nước vô cùng năng động rất nhiều nhiệt huyết và trong một thời gian ngắn mà tôi đã thấy rất thích Việt Nam, học hỏi rất nhiều từ chuyến đi của tôi và hi vọng rằng có nhiều người trẻ tuổi Việt nam sẽ đến trường Harvard Kennedy để học tập.

Bạn Thu Hiền: Có ý kiến cho rằng hiện nay 2 Đảng cộng hòa dân chủ ở Mỹ lúc này tập trung vào việc đổ lỗi cho nhau, chỉ trích cho nhau hơn là gánh vác trách nhiệm để giải quyết khủng hoảng, quan điểm của ông như thế nào? Trường Kennedy School, trường Harvard Kennedy sẽ làm gì để góp phần hàn gắn 2 Đảng và nghĩ đến trách nhiệm của quốc gia?

GS David Ellwood: Tôi đồng ý với 2 ý trong câu hỏi vừa rồi. Tôi dành rất nhiều thời gian của tôi để suy nghĩ về câu hỏi đó.

Đúng là nền chính trị, hiện trạng Hoa Kì đang không được tốt đẹp cho lắm. Hai Đảng của Hoa Kì hiện nay dùng mọi sức mạnh của mình để chỉ trích phía bên kia, không quan tâm giải quyết đến những vấn đề bức xúc mà chúng ta vừa thảo luận vừa rồi của Hoa Kỳ và của toàn cầu.

Tôi cũng đi các nơi, hỏi ý kiến mọi người xem là trong tình hình như thế thì trường Harvard Kennedy có thể làm gì, có thể đóng góp gì.

Tôi cũng xin đưa ra một vài ý tưởng. Bên cạnh việc tổ chức các hoạt động đào tạo thì trường Harvard Kennedy còn là nơi tổ chức các hội nghị mang các nhà lãnh đạo ở các bên, các nơi đến cùng gặp mặt nhau, cùng trao đổi thảo luận với nhau. Đó là một vai trò mà tôi nghĩ rằng là trường Kennedy có thể đứng ra để đưa các nhà lãnh đạo mà có thể là ở các bên Đảng chính trị đối lập nhau để cùng thảo luận những vấn đề.

Ý tưởng ban đầu  khi mời các nhà lãnh đạo đến thì chưa thể đưa họ bàn ngay về một vấn đề hàng đầu với quá nhiều mâu thuẫn, khoảng cách. Hãy chọn một số vấn đề mà các nhà lãnh đạo các bên đối lập có thể làm việc được với nhau những vấn đề cũng quan trọng ví dụ như là thay đổi cơ cấu dân số, vấn đề hỗ trợ đào tạo cho những người trẻ tuổi. Khi đó các bên dù đối lập cũng có thể ngồi với nhau, có thể bàn với nhau và tạo ra những thắng lợi. Thắng lợi đó là nền tảng để đưa các bên tới lại gần nhau hơn.

Đó là một trong những khía cạnh, những lĩnh vực mà trường Harvard Kennedy có thể có những đóng góp quan trọng. Tôi cho rằng các tổ chức giáo dục vẫn có những uy tín nhất định để làm chuyện đó.

Nhìn lại lịch sử của chúng tôi thì tôi cũng thấy rất yên tâm, 2 lãnh tụ sáng lập ra nước Hoa Kỳ là Thomas Jefferson và John Adam, những người đã cùng chung tay để viết lên tuyên ngôn độc lập, viết lên hiến pháp Hoa Kì và sau khi lập nước thì họ đi vào 2 đảng phái đối lập nhau và chỉ trích nhau một cách rất thậm tệ, dùng những lời lẽ vô cùng thậm tệ để chỉ trích nhau, nhưng sau cùng họ vẫn trở thành những người bạn, vẫn trao đổi thư từ và cả 2 cùng chết đúng vào ngày độc lập, ngày quốc khánh của Hoa Kì chỉ cách nhau có vài phút thôi.

Tôi cho rằng nếu các nhà lãnh tụ có cùng những lí tưởng lớn, những lí tưởng vĩ đại về tự do, về phúc lợi, về đưa đất nước lớn mạnh lên thì họ vẫn có thể chung tay giải quyết những vấn đề lớn.

Đúng là giai đoạn này, thời gian vừa rồi là khó khăn đối với Hoa Kì, nhưng tôi có một niềm tin chắc chắn là Hoa Kì sẽ vượt qua được.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Theo ông, trường Harvard Kennedy School có thể trở thành vai trò trung gian hòa giải cho 2 đảng?

GS David Ellwood: Đúng. Tôi cho rằng là trường Harvard Kennrdy có vai trò trong nỗ lực như vậy. Trường Kennedy luôn là nơi đưa ra những ý tưởng mới cho cả lãnh tụ của cả hai Đảng.

Đóng vai trò trung gian để các bên cùng ngồi lại cùng chung tay với nhau thì đó chính là vai trò không chỉ ở Hoa Kì mà theo tôi còn ở những nơi khác trên thế giới.

Hôm qua tôi có một bài phát biểu tại hội nghị ở đây với chủ đề là hành động kịp thời làm sao để chúng ta có thể nhìn những vấn đề bức xúc như hiện nay,chắc chắn là sẽ gây ra những tác động trầm trọng trong tương lai nhưng chúng ta lại không sẵn sàng, không chịu giải quyết từ bây giờ.

Vấn đề thách thức là làm sao để có thể làm được như vậy .Theo tôi, đó chính là một trong những vai trò đóng góp của trường Harvard Kennedy.

Đúng cách đây 50 năm, vào tháng giêng tổng thống Jonesh Kennedy nhậm chức. Tổng thống Jonesh Kenndy có rất nhiều câu nói nổi tiếng đi vào lòng người. Một trong những câu nói nổi tiếng nhất đó là ông nói rằng đừng có đòi hỏi đất nước làm gì cho ta, hãy nói rằng ta có thể làm gì cho đất nước, ta có thể làm gì cho đất nước đó chính là khẩu hiệu của trường Kennedy.

Một câu nói nữa là đừng có đòi hỏi Hoa Kì làm gì cho các anh các chị và hãy hỏi rằng các anh các chị có thể làm gì cho nhân loại trong tương lai. Tôi nhìn vào Hoa Kì, nhìn vào thế giới cả Việt Nam, một xã hội rất năng động, hoài bão và tôi thấy rất lạc quan, chúng ta đều muốn vươn tới những đỉnh cao, có thể chúng ta không biết khi nào vươn tới nhưng rõ ràng là chúng ta đều biết được hướng đi, đều là như thế nào phải vượt qua những thách thức ra sao.

Nhà báo Nguyễn Anh TuấnHiện nay trong các nhà trường hầu như chưa quan tâm nhiều đào tạo vấn đề giá trị tinh thần, những lãnh tụ tinh thần và trong thế giới ngày nay không chỉ là khoa học quản trị đã đủ, nguyên tắc quản lí khoa học quản trị mà  còn giá trị tinh thần, lãnh tụ tinh thần trong đó nữa. Đặc biệt làm sao hướng tới một thế giới hòa giải yêu thương lẫn nhau. Liệu trường Harvard Kennedy có những định hướng đào tạo nào để bù đắp cho những thiếu hụt của các nhà lãnh đạo ngày hôm nay, thiếu hụt về giá trị tinh thần, giá trị hòa giải không chỉ là vươn lên mà nghĩ yêu thương hòa giải đến cả đối thủ của mình để làm sao cho một thế giới ngày càng tốt đẹp hơn?

GS David Ellwood: Trường Harvard Kennedy luôn luôn muốn nhận những sinh viên mà chúng tôi nói là có trái tim mềm dẻo. Nhưng cái tôi sợ là cùng với trái tim mềm dẻo đó, họ cũng có cái đầu mềm dẻo. Chúng tôi muốn họ có trái tim mềm dẻo nhưng có cái đầu cứng rắn, và chính vì vậy họ phải học những môn về mặt kĩ thuật, học những kĩ năng, học kinh tế học thống kê...  Việc này đòi hỏi nỗ lực khó khăn để học qua những môn đấy. Chúng tôi luôn nhắc họ lí do mình đã chọn đến trường Harvard Kennedy là gì?

Để làm như vậy thì ở trường chúng tôi tổ chức diễn đàn, hàng tối mời các nhà lãnh đạo, các diễn giả đến nói chuyện cùng với học viên, chia sẻ kinh nghiệm, khuyến khích tinh thần, nhiệt huyết của học viên và khuyến khích họ đưa ra những ý tưởng mới, đưa ra những dự án mới hỗ trợ họ, đào tạo họ, đưa họ ra thế giới và tự hào về những gì mình đã đạt được. Điều chúng tôi muốn có là đào tạo ra những con người có trái tim mềm dẻo và có đầu óc cứng rắn, sáng suốt.

Gần đây anh cũng đã đến thăm trường Harvard Kennedy và cũng hi vọng rằng là những bạn trẻ Việt Nam cũng chỉ cần một nửa sự can đảm thôi nộp đơn nhập học vào trường Kennedy và chúng tôi sẵn sàng chào đón các học viên Việt Nam ở trường Harvard Kennedy.

Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Thời gian trực tuyến với Giáo sư David Ellwood đã dài, chúng tôi xin dừng cuộc đàm luận tại đây. Xin trân trọng cám ơn GS David Eddwood và chúc cho trường Harvard Kennedy có những tư tưởng mới, những triết lí mới trong việc đào tạo phát triển năng lực lãnh đạo, đào tạo ra những nhà lãnh đạo cho thế giới ngày hôm nay, cho thế giới đã đổi thay với toàn cầu hóa với nền văn minh thông tin và luôn luôn giữ là một trường hàng đầu trong đào tạo các nhà lãnh đạo quản trị công. Cám ơn bạn đọc VietNamNet đã quan tâm theo dõi và hi vọng trong tương lai VietNamNet sẽ được tiếp tục phỏng vấn GS từ xa.