Saturday, August 13, 2011

Phân vai lãnh đạo - quản lý

Nhà quản lý tìm cách làm thật tốt một công việc, còn người lãnh đạo lại cố gắng xác định đúng công việc để làm. Điều này cho thấy, tuy ở vị trí đứng đầu, nhưng vai trò của nhà quản lý và lãnh đạo hoàn toàn khác biệt. Nhầm lẫn giữa hai vai trò này khiến hoạt động của nhiều doanh nghiệp bế tắc.

Ông Trịnh Thành Thịnh, Giám đốc Phân phối của MegaStar Media, đặt vấn đề: Do chưa hiểu rõ vai trò của người lãnh đạo với quản lý, nhất là thường bị nhầm lẫn giữa hai vị trí này, nên những người từ vị trí quản lý lên làm lãnh đạo thường gặp trở ngại do thiếu sót một vài kiến thức có liên quan.

Cũng chính vì sự nhầm lẫn này mà những người lãnh đạo chưa xác định được khi nào áp dụng vai trò quản lý, khi nào áp dụng vai trò lãnh đạo và cân bằng giữa hai vai trò trong công việc".

Theo ông Thịnh, các nhà lãnh đạo thường hay nói về tầm nhìn, sứ mệnh, khích lệ nhân viên của mình nhiều hơn, truyền cảm hứng làm việc cho họ...

Còn các nhà quản lý thường nói nhiều hơn về quy trình làm việc, hệ thống, công việc, mục tiêu giám sát và điều phối công việc nhiều hơn..

Về cơ bản, hai vai trò hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, để hoạt động của DN hiệu quả phải tùy thuộc vào tình huống. Chẳng hạn, có những lúc tình hình kinh tế khác nhau như lạm phát, khủng hoảng tài chính thì cần quản lý nhiều hơn, thắt chặt nhiều hơn...

Nhưng khi khủng hoảng về con người, ví dụ như việc thiếu nguồn nhân lực cấp trung, thiếu nguồn nhân lực cấp cao, người lao động thiếu kỹ năng quản lý... thì rất cần vai trò người lãnh đạo.


Theo ông Nguyễn Anh Huy, Giám đốc Talentlink Center, trong tình hình kinh tế khó khăn, lạm phát, tỷ giá thay đổi liên tục, trong điều hành DN có rất nhiều rủi ro.

Như vậy, khi kinh tế khủng hoảng, chúng ta thực hiện vai trò quản lý nhiều hơn là vai trò lãnh đạo, nhưng để thiết lập ra hệ thống quản lý tốt, để cho mỗi người làm theo sự quản lý đó thì cần thực hiện vai trò lãnh đạo để hướng mọi người đến sự thay đổi đó. Cũng trong thời buổi kinh tế khó khăn, vai trò của người lãnh đạo cũng phải thay đổi cho phù hợp.

Trước đây, chúng ta khuyến khích nhân viên làm việc, nhưng bây giờ phải theo sát từng bộ phận, từng ngành kinh doanh, chúng ta giám sát về lãi lỗ, về thu mua, tổn thất, dòng tiền tệ, vay ngân hàng như thế nào... từ đó mới có thể quản lý chặt và mang lại hiệu quả kinh doanh.

Bằng kinh nghiệm của mình, ông John Vong, Cố vấn cấp cao của Tập đoàn Sacombank, khuyên những người lãnh đạo đang giữ vai trò Chủ tịch HĐQT hãy tìm người tổng giám đốc giỏi nhất và "đứng sau" những vị này.

Vì khi là Chủ tịch HĐQT, lãnh đạo nên đóng vai trò là trọng tài hơn là đóng vai trò cầu thủ trên sân bóng. Nếu lãnh đạo vẫn muốn tham gia vào cầu thủ thì xảy ra việc vừa đá bóng vừa thổi còi thì tình huống nó sẽ khó khăn. Đó là lý do tại sao các hoạt động của các công ty ở Việt Nam trở nên rắc rối vì các công ty ở Việt Nam thì trọng tài và cầu thủ là một.

Thực tế, cũng có nhiều trường hợp khi công ty nhỏ, các nhân viên với kinh nghiệm còn non trẻ, chưa cọ xát với thực tế nhiều, thường làm việc với sếp trên cơ sở vừa tôn trọng, vừa sợ sếp.

Sau đó, khi quy trình làm việc đã vào quy củ, nhân viên có kinh nghiệm, được giao quyền, chủ động trong công việc thì bắt đầu "lạc lối". Theo ông John Vong, trong tình huống này, nếu công ty chỉ có mình bạn là lãnh đạo, thì cần tạo ra một nhóm những nhà lãnh đạo nhỏ để củng hỗ trợ nhau.

Nếu công ty có những người nhân viên khác nhau thì việc quản lý phụ thuộc vào những cấp nhân viên với những phẩm chất khác nhau. Nếu họ có kiến thức, có thái độ tốt, thì nên giao quyền để họ làm việc. Trong khi đó, khi nhân viên còn thiếu kiến thức, chưa có thái độ tốt thì cần phải giám sát, theo dõi công việc của họ.
Vị trí quản lý và lãnh đạo ở DN Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào ý thức, chất lượng của nguồn nhân lực. Nếu nhân viên giỏi, tôn trọng cam kết thì rất thuận tiện để giao việc, giao quyền.

Nhưng nếu nhân viên chưa nhân thức rõ được công việc, không có tính cam kết thì bắt buộc, người sếp phải đóng vai trò cả người quản lý, vừa phải hối thúc, kiểm soát, kiểm tra gắt gao hiệu quả công việc.

Ông John Vong cũng cho biết đang quản lý DN ở 5 quốc gia. Ông Vong là người lớn tuổi thứ 3 ở các DN này, nhưng ông vẫn chuyển giao quyền lực cho những nhân viên nhỏ hơn ông từ 15 - 20 tuổi.

Ông chia sẻ: "Khi muốn DN phát triển thì cần phải mạnh dạn tin tưởng vào nhân viên, giao quyền cho họ. Cố tập trung quyền lực vào tay mình, thì cuối cùng hoạt động kinh doanh sẽ chỉ tồn tại đến thế hệ của mình mà thôi.

Cần phải chuyển giao công việc, quyền lực, huấn luyện nhân viên để họ có thể tiếp quản công việc tốt khi không có mặt mình. Song, điều quan trọng nhất là người lãnh đạo cần phải thích nghi với từng thay đổi của hoàn cảnh thực tế để có thể thực hiện tốt vai trò của mình".

(Theo Doanh nhân SG cuối tuần)

Xây dựng thương hiệu theo cách của Apple

Apple đã rất hào phóng trong việc thúc đẩy thương hiệu của mình, nhưng nghiên cứu lại cho thấy giá trị thương hiệu tăng vọt là nhờ vào ảnh hưởng của 2 sản phẩm: iPad và iPhone. Bất cứ nhà tiếp thị nào cũng sẽ tìm thấy một bài học ở Apple. 

Bạn muốn xây dựng một thương hiệu quyền lực? Hãy tự hỏi mình liệu sản phẩm/dịch vụ của bạn có thể trở thành sứ giả cho thương hiệu hay không.

Cách đây ít ngày, công ty nghiên cứu thị trường Millward Brown đã công bố danh sách những thương hiệu giá trị nhất thế giới. Lần đầu tiên Apple đứng đầu danh sách này. Giá trị thương hiệu của Apple là 153 tỷ USD, tăng 84% mỗi năm. Đúng, Apple đã rất hào phóng trong việc thúc đẩy thương hiệu của mình, nhưng nghiên cứu lại cho thấy giá trị thương hiệu tăng vọt là nhờ vào ảnh hưởng của 2 sản phẩm: iPad và iPhone.

Bất cứ nhà tiếp thị nào cũng sẽ tìm thấy một bài học ở Apple. Bạn muốn xây dựng một thương hiệu quyền lực? Hãy tự hỏi mình liệu sản phẩm/dịch vụ của bạn có thể trở thành sứ giả cho thương hiệu hay không.

Giá mà các hãng ô tô Detroit (bộ ba hãng ô tô GM, Ford và Chrysler còn được gọi là Big Three hay Detroit Three) lưu tâm đến điều này từ nhiều năm trước. Họ đã dành tiền cho quảng cáo nhiều hơn bất cứ lĩnh vực nào khác trong nền kinh tế nước Mỹ. (GM từng chi mạnh tay hơn cả tập đoàn hàng tiêu dùng P&G.) Và họ đã phải trải qua giai đoạn khó khăn gần chết mới nhận ra một sự thật quan trọng: bạn có thể quảng cáo và xúc tiến tất cả những gì bạn muốn, nhưng đến cuối cùng "quản trị thương hiệu" vẫn là về bản thân sản phẩm.   Một thước phim quảng cáo 30 giây sẽ kéo dài... chỉ 30 giây! Còn khi khách hàng đến mua ô tô, thì trải nghiệm của họ lúc đó sẽ kéo dài hàng năm liền. Một chiếc ô tô không chạy tốt chắc chắn sẽ bào mòn thương hiệu - và tì vết đó sẽ vẫn còn mãi kể cả thời gian có trôi qua.

Có 4 cách để biến thứ mà bạn bán thành sứ giả cho thương hiệu của bạn. Tuy không phải công ty nào cũng có thể thành công, nhưng bạn cũng nên cân nhắc để biến sản phẩm của mình thành....


.... Tiện ích có thương hiệu: Đến tận lúc này, Google vẫn chưa phải chi ra 1 xu cho quảng cáo. Được định giá 111 tỷ USD, thương hiệu của Google được nhận diện nhờ dịch vụ của hãng có mặt khắp nơi, ban đầu là công cụ tìm kiếm rồi mở rộng sang hệ điều hành Android, các dịch vụ Google Earth, Google Maps, Google Trends và một danh sách khổng lồ những đặc tính và ứng dụng liên quan. Google là tiện ích thông tin. Thay vì mang đến nước, điện hay khí đốt, Google mang đến cho khách hàng câu trả lời. Tương tự như vậy, trong khi đã thiết lập được tiêu chuẩn vàng cho thương mại trực tuyến, Amazon vẫn rất hà tiện trong việc đẩy mạnh thương hiệu. Thay vì thế, hãng lại phân bổ ngân sách tiếp thị để xây dựng sản phẩm tốt hơn: giao hàng tận nơi, đặt hàng chỉ bằng một cú click chuột, thường đưa ra những mức giá thấp nhất, và đưa ra những gợi ý mua hàng thông minh. Amazon đã tạo ra tiện ích mua sắm đỉnh cao. Đúng là biểu tượng nhoẻn miệng cười trên logo Amazon rất hay, nhưng thương hiệu Amazon được xây dựng chỉ hoàn toàn dựa trên tính hữu dụng của trang web này.

....Người kết nối xã hội: Thương hiệu Facebook đã tiến lên vị trí thứ 35 trên bảng xếp hạng mới nhất với giá trị 19 tỷ USD. Facebook lại là một kiểu tiện ích loại khác.

Lợi ích với người dùng, dĩ nhiên, là kết nối với những người dùng khác, là làm giàu trải nghiệm với hàng tá tính năng và hàng trăm nghìn ứng dụng của các bên thứ 3, nhiều cách thông tin, chia sẻ, và giờ đây còn là kết hợp với Skype. Những thành quả khổng lồ của nền tảng của Facebook đảm bảo rằng hãng chẳng cần phải chi tiền cho phương tiện truyền thông làm gì. Nói về Skype, một thương hiệu giá trị khổng lồ khác thành công nhờ kết nối mọi người. Năm ngoái, Skype tuyên bố có 663 triệu người đăng kí sử dụng, cũng không kém cạnh gì con số 750 triệu của Facebook. Bài học tương tự có thể thấy từ Twitter, LinkedIn và Foursquare. Mỗi một công ty trong số này đều xây dưng tài sản thương hiệu bằng cách chuyển tải giá trị bằng cam kết kết nối cộng đồng, chứ không phải chỉ là lời tuyên bố suông của chủ thương hiệu.   .

...Hệ thống tính năng: BMW từ rất lâu đã kết nối câu thần chú thương hiệu nổi tiếng: "chiếc xe tuyệt đỉnh" với sản phẩm của mình trên thực tế. Quả là duy trì nhận thức về thương hiệu cũng rất quan trọng nếu bạn muốn bán được xe trên quy mô lớn. Nhưng điều khiến khách hàng phải quay lại với BMW chính là những chiếc xe với đúng những giá trị đã được hãng tuyên bố. Một hãng ô tô khác cũng đã học được điều này: Sau một loạt những vấn đề về chất lượng, VW đã thay đổi cách thức của mình.

CEO Martin Winkerhorn của hãng, người bị ám ảnh về chất lượng, đã nói với tạp chí Business Week: "Sản phẩm là danh thiếp kinh doanh của chúng tôi đối với khách hàng.Chúng phải hoàn hảo." Trong lĩnh vực nấu nướng, nhiều bà nội trợ cũng có được trải nghiệm hài lòng tương tự nhờ sử dụng sản phẩm của OXO Good Grips. Bạn không cần một chiến dịch quảng cáo để biết rằng những sản phẩm bếp núc lạ mắt này - tất cả các sản phẩm của hãng đều có tay cầm bọc cao su đen hình củ - hoạt động rất tốt và dễ sử dụng. Bạn chỉ cần thử dùng một lần là sẽ biết điều đó. Một chiếc dao gọt vỏ của Good Grips rất dễ cầm. Có thể bạn sẽ nói điều tương tự về Big Green Egg (bếp nấu đa năng ngoài trời)

.... Sản phẩm gây nghiện: Dù mỗi một sản phẩm của Apple thực tế cũng "chỉ" là một chiếc máy tính trong vỏ bọc bé nhỏ, thì chúng cũng được đáp lại bởi những cảm xúc dễ được coi là yêu mến hay thậm chí là nghiện. Trong ngành ô tô, MINI của BMW và Beetle của VW cũng gây ra cảm xúc tương tự cho người sử dụng. Ngay cả trong những ngành công nghiệp cứng nhắc, cảm xúc cũng có thể giúp xây dựng thương hiệu. Kiva Systems, hãng sản xuất dụng cụ vận chuyển hàng hóa trong các cửa hàng bán lẻ, nhận ra rằng ngay cả những nhân vật kì cựu và khó tính trong lĩnh vực hậu cần cũng phải lòng những con robot quyến rũ của hãng, và mua sản phẩm này bởi khả năng nâng cao hiệu suất vận chuyển của chúng.

Vậy, liệu một sản phẩm "cực đỉnh" có cần phải tiếp thị không? Dĩ nhiên là có, nhưng tiếp thị chỉ là điều kiện cần, chứ chưa phải điều kiện đủ. Điều kiện đủ, trên thực tế, phải là những sản phẩm có thể trở thành phát ngôn viên cho thương hiệu của chúng.

Thu Thủy
Theo TTVN/Havard Business Review

Học làm sếp từ Lady Gaga

Nhà lãnh đạo là người có những người đi theo (follower) và có sức ảnh hưởng - không hơn, không kém. Ở Lady Gaga có đủ hai yếu tố đó.


Chúng ta có nên nhìn nhận diva nhạc Pop Lady Gaga như một hình mẫu cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp không? Điều đó nghe có vẻ lạ lùng?

Thông thường, các giám đốc điều hành tin rằng không có điều gì họ có thể học hỏi từ các nghệ sĩ nổi tiếng bởi vì họ quá cách xa với thế giới kinh doanh. Tuy nhiên, ba học giả về quản lý, Jamie Anderson và Joerg Reckhenric của trường quản lý Antwerp tại Bỉ và Martin Kupp của trường quản lý và công nghệ châu Âu tại Berlin là tác giả của nghiên cứu có tên: "Lady Gaga: Sinh ra như vậy?" và họ có ý kiến khác.

Trước khi đi sâu vào những phát hiện của nghiên cứu này, chúng ta hãy làm rõ về thuật ngữ "sự lãnh đạo". Có hàng trăm định nghĩa về sự lãnh đạo, nhưng tôi có hai định nghĩa ưa thích. Peter Drucker, người có lẽ là nhà tư tưởng quản lý vĩ đại nhất thời đại chúng ta nói rằng "Định nghĩa duy nhất về một nhà lãnh đạo là người có những người đi theo (follower)" Và định nghĩa của John Maxwell một chuyên gia Mỹ có uy tín về sự lãnh đạo là "Sự lãnh đạo là sức ảnh hưởng - không hơn, không kém."




Lady Gaga phù hợp với cả hai định nghĩa.

Vào năm 2010, Lady Gaga được tạp chí Time đánh giá là một trong những người có sức ảnh hưởng lớn nhất thế giới trong năm. Cô là một trong những ca sỹ bán chạy nhất trên thế giới. Cô ca sỹ người Mỹ 25 tuổi này được dự đoán là sẽ tạo ra doanh thu khoảng 100 triệu USD trong năm nay.

Lady Gaga cũng là một ngôi sao truyền thông xã hội lớn. Cô là người đầu tiên đạt tới mức 10 triệu người xem trên Twitter. Cô có 41 triệu người hâm mộ trên Facebook và đã đạt tới mốc 1 tỷ lượt xem trên YouTube.
Lady Gaga có cái mà Anderson, Reckhenric và Kupp gọi là "thể hiện sự lãnh đạo". Đây là một khái niệm trong đó sự giao tiếp, hành vi và nguyện vọng kết hợp lại để mang đến cho một nhà lãnh đạo sự công nhận rộng rãi trên toàn một ngành hoặc lĩnh vực của đời sống công cộng. Thể hiện sự lãnh đạo chính là về việc thu hút người theo gót - rốt cuộc thì một nhà lãnh đạo thực sự chỉ tồn tại nếu anh ta hoặc cô ta có thể kích thích lòng trung thành ở những người khác.

Các nhà xã hội học và giáo sư trường Harvard Howard Gardner nói rằng để đạt được điều đó từ khán giả, các nhà lãnh đạo sử dụng ba kiểu câu chuyện phổ biến - rất giống với những kiểu câu chuyện được sử dụng Lady Gaga sử dụng hiệu quả:

1. Tôi là ai? Một câu chuyện cá nhân về kinh nghiệm sống và làm thế nào nó định hình cá tính và tính nết của tôi.

Lady Gaga nhấn mạnh rằng cô là một đứa trẻ kỳ lạ ở trường nhưng được thúc đẩy sáng tạo. Cô mô tả bản thân như một người không chịu theo các quy tắc và một linh hồn lạc mất những người đồng hành.

2. Chúng tôi là ai? Một nhóm bị hút vào những giá trị và mô hình hành vi chung.

Ngôi sao nhạc pop gây nhiều tranh cãi gọi người hâm mộ mình là "những con quái vật nhỏ của tôi" và bản thân mình là "quái vật mẹ". Cô nói với họ rằng kỳ quặc cũng chẳng sao - một thông điệp gửi tới những người hâm hộ của cô mà rất nhiều trong số đó là người trẻ tuổi có thể thông hiểu. Nó đã trở thành một khuynh hướng đích thực.

3. Chúng tôi đang đi đâu? Các thông điệp về các nhiệm vụ tập thể, giải thích điều gì mới và đang tạo ra cảm giác hứng khởi về định hướng.

Lady Gaga đẩy mạnh những quyền đồng tính nam và đồng tính nữ và tán dương sự tự thể hiện mình. Cô nói với những người hâm mộ cô rằng cùng nhau họ có thể thay đổi thế giới.

Theo Reckhenrich, Lady Gaga đã học hỏi một cách hoàn hảo nghệ thuật kết nối người hâm mộ trên những nền tảng truyền thông xã hội khác nhau mà ông gọi là "nền tảng cho sự thân mật đại chúng."

Các tác giả của nghiên cứu này tin rằng khả năng xây dựng cam kết cảm xúc trong những người mà cô dẫn dắt là một năng lực tăng giá trị trong thế giới kinh doanh ngày nay. Theo một bài báo gần đây trên The Economist đề cập đến Lady Gaga như môt biểu tượng về sự lãnh đạo, công ty tuyển dụng giám đốc điều hành châu Âu Egon Zehnder hiện đang làm việc với các tác giả của trường hợp nghiên cứu để tìm ra cách xác định các ứng viên cho vị trí hàng đầu của các công ty có năng lực để "thể hiện sự lãnh đạo" theo cách mà Lady Gaga làm.

Trong thế giới ngày nay nơi các nhân viên khát khao ý nghĩa và mục đích tại nơi làm việc thì điều quan trọng là các nhà lãnh đạo sử dụng các câu chuyện kể và sự thể hiện để đưa khán giả đi cùng mình trên cuộc hành trình tổ chức của họ.

Một ví dụ tốt từ thế giới doanh nghiệp trong bối cảnh này là Steve Jobs, vị giám đốc điều hành mang tính biểu tượng và có tầm nhìn của Apple - người đàn ông đã tạo ra thương hiệu giá trị nhất thế giới. Jobs đã có can đảm và cả sự tổn thương để kể câu chuyện cá nhân của mình. Ông đã bỏ học, bị sa thải bởi công ty mà ông thành lập và sau này lại được thuê lại.

Jobs luôn mơ về việc thay đổi thế giới, một giấc mơ mà nhiều người có thể hiểu. Giấc mơ đó tiếp sức cho sự phát triển các sản phẩm mang tính sáng tạo cao, thúc đẩy bởi thiết kế và thay đổi thị trường của Apple.

Giống như Lady Gaga, Jobs lựa chọn vị thế của người ngoài cuộc cho sự giao tiếp của mình. Ông nói: "Đây là cho những người điên cuồng. Những người không thích nghi với ngoại cảnh. Những người tạo ra rắc rối Những người nhìn thấy sự khác biệt. Trong khi một số người có thể nhìn nhận họ là những kẻ điên, chúng tôi coi họ là những thiên tài. Bởi vì những người đủ điên để nghĩ rằng họ có thể thay đổi thế giới là những người làm được điều đó."

Có một câu chuyện nổi tiếng về các nỗ lực của Jobs để thu hút người đàn ông lúc đó là giám đốc điều hành của Pepsi, John Sculley, về lãnh đạo Apple. "Ông muốn bán nước đường cả đời hay ông muốn thay đổi thế giới?" Jobs đã hỏi Sculley lúc đó vẫn còn lưỡng lự khi thuyết phục ông trở thành giám đốc điều hành của Apple - vị trí mà sau này Sculley đã đảm nhiệm từ năm 1983 đến 1993. Tầm nhìn của Job là để thay đổi thế giới và mọi người tin vào ông.

Lady Gaga và Steve Jobs đều kiếm cho mình những người theo gót hết mình và đông đảo. Kỹ năng kể chuyện và giao tiếp vô cùng hiệu quả của họ có vai trò cốt yếu với điều đó. Vì vậy lần tới bạn nói với nhóm của bạn, dành thời gian để suy nghĩ trước câu trả lời cho ba câu hỏi phổ biến nói trên và chắc rằng bạn liên kết với nhóm của mình trên nền tảng cảm xúc. Sau cùng, chúng ta biết rằng "cảm xúc tạo ra động lực" và rằng đó là những gì chúng ta muốn: chuyển động cùng với những người của mình hướng tới một tầm nhìn chung.

Thursday, August 11, 2011

9 xu hướng quảng cáo trực tuyến hấp dẫn hiện nay

quang-cao-truc-tuyenThế giới  đang góp sức định hình lại thị trường quảng cáo trực tuyến đầy tiềm năng. Với những thành tựu công nghệ mới, trong đó nổi bật hơn cả là sự trỗi dậy của mạng internet trong vòng 2 thập kỷ trở lại đây, bộ mặt của ngành quảng cáo đã và đang thay đổi hoàn toàn nhờ vào khái niệm chưa bao giờ tồn tại trong quá khứ: Quảng cáo trực tuyến

Ai cũng có thể nhận ra Thung lũng Silicon đang ngày một lột xác để trở thành Đại lộ Madison (kinh đô của ngành quảng cáo nước Mỹ) thứ hai. . Bên cạnh đó, khoảng cách giữa nhà sản xuất và khách hàng cũng được rút ngắn lại đáng kể.

Dưới đây là những xu hướng quảng cáo trực tuyến tiêu biểu trong thời gian qua. Tất cả chúng đều đang góp phần định hình lại thị trường quảng cáo trực tuyến đầy tiềm năng.

1. Những video theo yêu cầu của Old Scipe
 
OldSpice
Old Spice, thương hiệu sản phẩm khử mùi của tập đoàn Procter & Gamble trong vòng một thập kỷ qua đã phải ngồi nhìn kỳ phùng địch thủ Axe của Unilever lấy đi khách hàng nhờ vào chiến lược marketing thông minh. Tuy nhiên, như một phép màu, thương hiệu này lại một lần nữa trở thành sự lựa chọn của người tiêu dùng nam giới nhờ có một chiến dịch quảng cáo video ấn tượng.

Hơn 180 đoạn video quảng cáo mang tính tương tác trong chương trình “Smell like a man, man” đã được thương hiệu này cùng ngôi sao bóng bầu dục nổi tiếng Isaiah Mustafa quay theo yêu cầu của chính khách hàng.
 
2. Bar Code và QR Code

barcode
Những nhà marketing và doanh nghiệp quảng cáo trên các nền tảng di động đã và đang sử dụng QR code, một dạng mã vạch có thể đọc bởi điện thoại di động hay máy tính bảng để truy cập vào nội dung trực tuyến dành riêng cho khách hàng. Một bước tiến đáng ghi nhận trong lĩnh vực mua sắm tương tác trên nền tảng các thiết bị di động.

3. Quảng cáo theo địa điểm
 
gapfoursquaread
Những dịch vụ dựa trên địa điểm thực như Foursquare, Gowalla hay Facebook Places đã trở thành mục tiêu tiếp cận của các chuyên gia quảng cáo. Tuy nhiên không phải dự án quảng cáo theo địa điểm nào cũng thành công. Thất bại điển hình phải kể đến là của thuơng hiệu cà phê Starbucks. Những người sử dụng dịch vụ Foursquare mỗi khi tới gần những quán cà phê của Starbucks đều nhận được tin nhắn giảm giá.
 
Không phải ai cũng có ý định tạm ngừng cuộc hành trình của mình chỉ để tiết kiệm 1 Đô la cho một cốc cà phê! Tuy nhiên bên cạnh đó cũng không ít những thương hiệu thành công trong chiến lược quảng cáo này, ví dụ như Coca-Cola hay American Apparel.
 
4. iAds
troniad2
Khi các thiết bị di động của Apple thống trị thị trường thiết bị di động hi-end, thì những nhà marketing chuyển hướng đầu tư vào các nền tảng iDevices hẳn là một sự lựa chọn sáng suốt.
 
Tuy nhiên đi kèm với lợi nhuận, thì “Quả táo” cũng kiểm soát chất lượng những quảng cáo trên thiết bị của họ bằng chính cái giá trong hợp đồng. Giá khởi điểm để một doanh nghiệp được phép đưa quảng cáo của mình lên các thiết bị của Apple là 1 triệu USD, và cái giá tối đa là 10 triệu USD. Bù lại, nền tảng iAd có thể giúp những nhà marketing có thể tạo ra những quảng cáo hiệu quả mặc dù họ không biết chút gì về HTML5, CSS3 hay JavaScript.

5. Twitter

promotweets

Với lực lượng người sử dụng hùng hậu, Twitter trở thành một thị trường quảng cáo tiềm năng với hầu hết đối tượng khách hàng có mặt trên mạng xã hội này. Và đến khi Twitter cho ra mắt chức năng Promoted Tweets, những doanh nghiệp đã chính thức được chính Twitter trực tiếp hỗ trợ trong công cuộc tiếp cận khách hàng của họ.

6. Những doanh nghiệp quảng cáo trực tuyến
 
grouponmerchant
Không phải tự nhiên mà Google đã có dự định bỏ hơn 6 tỉ USD để mua lại Groupon. Công ty 2 năm tuổi này sở hữu một mô hình và chiến lược kinh doanh những coupon giảm giá trên diện rộng hết sức thành công. Và cho đến hiện tại, Groupon gần như “vô đối” trong lĩnh vực mà họ đang hoạt động.

7. Quảng cáo qua CAPTCHA
Captcha
Chắc hẳn ai cũng đã từng một lần phải gõ những đoạn ký tự nhận diện CAPTCHA để chứng minh mình không phải là một phần mềm spam nào đó. Vậy có ai nghĩ CAPTCHA sẽ trở thành một nền tảng quảng cáo? Những công ty như Toyota, Microsoft hay Dr. Pepper cùng nhiều tập đoàn lớn khác đã và đang hợp tác với hệ thống này để quảng cáo cho thương hiệu của họ. Ví dụ như đối với Dr. Pepper, thay vì những cụm ký tự vô nghĩa, người sử dụng internet sẽ phải gõ đoạn “There’s nothing like a Pepper”.

8. Quảng cáo qua các thông điệp báo lỗi
 
Error
Với ý tưởng đưa quảng cáo vào chính những thông điệp báo lỗi, giúp phần nào xoá bỏ sự hụt hẫng của người sử dụng khi đang cố gắng tìm kiếm một trang web nào đó, vừa qua Digg cùng BurgerKing đã triển khai một chiến dịch quảng cáo ngay trên những trang báo lỗi tìm kiếm.
 
9. Chatroulette
 
Với chương trình chat video trực tuyến kết hợp chức năng của một “roulette” (ngẫu nhiên chọn bạn chat), những nhà quảng cáo có thể tiếp cận với rất nhiều khách hàng mỗi ngày để giới thiệu cho họ những sản phẩm mà đôi khi lại là thứ họ đang rất cần.
 
Vi Dũng - GenK, tham khảo Mashable

15 chiêu “móc tiền” của các siêu thị

Mỗi một khu vực của siêu thị từ bãi đậu xe cho đến các quầy tính tiền đều được thiết kế để khiến khách hàng phải "móc" nhiều tiền hơn để mua hàng.
 
Dưới đây là 15 chiêu khiến khách hàng phải “móc” nhiều tiền hơn để chi tiêu của các siêu thị.
supermarket
Bắt đầu với chiếc xe đẩy hàng trong siêu thị. Nó được phát minh vào năm 1938 với mục đích để khách hàng mua nhiều đồ hơn một cách dễ dàng.
supermarket2
Hầu hết các siêu thị đều đặt những gian hàng có lợi nhuận cao như hoa và bánh tươi gần cửa ra vào để hút khách vì lúc đó giỏ hàng của họ còn trống rỗng trong khi họ lại đang rất thoải mái để lựa chọn.
supermarket3
Một lý do khác để bắt đầu với hoa và bánh tươi chính là mùi vị hấp dẫn của nó. Những gian hàng này sẽ khiến cho họ dễ chịu hơn và thoải mái hơn với việc chi tiêu.
supermarket4

Các gian hàng về sản phẩm sữa và đồ dùng thiết yếu khác lại được bày khuất phía sau buộc khách hàng phải bước qua các gian hàng khác mới tới được.
supermarket5

Một khi khách hàng bắt đầu bước qua những lối đi có “rào chắn” này, họ sẽ không bị lạc lối.
supermarket6
Các mặt hàng bán chạy thường được bố trí bên phải của lối đi.
supermarket7
Các mặt hàng thực sự khuyến khích khách hàng mua nhiều thường đặt ở ngang tầm mắt.
supermarket8

Tiếp đến là thu hút sự chú ý của khách hàng nhí bằng việc đặt các mặt hàng dành trẻ em ngang tầm mắt chúng.
supermarket9
Các sản phẩm mẫu thường kéo chân khách khi tung ra các sản phẩm mới.
supermarket10
Vấn đề quy mô. Trong những siêu thị đông đúc, ít người đủ kiên nhẫn ở lâu trong siêu thị để chọn hàng.
supermarket11
Những màu sắc ấm áp thường thu hút khách. Các gam màu lạnh khuyến khích khách hàng đến thưởng ngắm và mua nhiều hơn. Do đó, nên trang trí ngoại thất bằng gạch và nội thất màu xanh mát.
supermarket12

Nghe nhạc? Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, điệu nhạc chậm có thể khiến người ta nán lại lâu hơn và tiêu nhiều tiền hơn. Nhưng nếu nhạc quá lớn lại làm khách hàng rời khỏi siêu thị nhanh hơn. Và điệu nhạc cổ điển lại có thể khiến ta tìm mua nhiều mặt hàng đắt đỏ hơn.

supermarket13
Khu vực có lợi nhuận nhất lại là các kệ hàng ở quầy thanh toán. Sau thời gian chờ đợi để thanh toán, khách hàng sẽ khó cưỡng nổi những kẹo hay cuốn tạp chí mà họ đã thờ ơ trước đó.
supermarket14

Tặng thẻ khách hàng thân thiết. Thẻ này sẽ lưu giữ những dữ liệu về khách hàng thường xuyên. Nó cũng sẽ cung cấp nhiều số liệu có giá trị.

Vậy bạn còn cách nào hay hơn để thêm vào danh sách cho đủ con số 15?

Nhật Anh - Dân Trí

Theo Business Insider

Chỉ số quan trọng trong chiến dịch xây dựng thương hiệu trực tuyến?


(Marketingchienluoc.com) Khi ngân sách tiếp thị trực tuyến ngày càng tăng, một câu hỏi được đặt ra cho các nhà tiếp thị thương hiệu là họ sẽ sử dụng những chỉ số nào để đo lường hiệu quả?


Chính vì vậy, AdExchange.com đã đặt ra câu hỏi sau:

 “Hãy phân tích 2 hoặc 3 chỉ số phân tích hiệu quả các chiến dịch xây dựng thương hiệu trực tuyến” 

Dean McRobie, CTO, (OmnicomMedia Group)

Tôi tin rằng 2 chỉ số truyền thống là độ phủ (reach)tần xuất (frequency) vẫn sẽ được sử dụng vì hầu như tất cả phương pháp và kĩ thuật đo lường đều dựa trên 2 chỉ số này. Tuy nhiên độ phủ và tần xuất chỉ phù hợp khi áp dụng cho truyền thông 1 chiều (truyền thống). Còn đối với truyền thông 2 chiều (trực tuyến) đang phát triển như hiện nay,chỉ số Share of Voice (bằng truyền miệng, ý kiến khách hàng) và shares/likes/forwards (chia sẻ/thích/gửi đi) đang trở nên phổ biến.

Độ phủ và tần xuất đánh giá hiệu quả quảng cáo, trong khi đó share of voice và social sharing (chia sẻ trên mạng xã hội) đánh giá tính hiệu quả về mặt gắn kết. Tôi tin rằng bạn cần sử dụng 4 chỉ số này để đánh giá hiệu quả của chiến dịch thương hiệu. Để mua truyền thông trực tuyến hiệu quả hơn, bạn cần tích hợp cả 4 chỉ số trên vào chiến lược đưa ra giá bid. Điều này ám chỉ rằng bạn cần phân tích các chỉ số trên theo từng phân khúc khách hàng, xây dựng lý thuyết đưa ra giá thầu, thử nghiệm và hiệu chỉnh.

David L. Smith, CEO kiêm sáng lập, Mediasmith

Đã quá lâu chúng ta chỉ dựa vào các chỉ số thương hiệu vốn không đầy đủ.
Ở  giai đoạn đầu và thậm chí hiện nay, nhiều thương hiệu vẫn sử dụng các chỉ số DR (Direct Respond) như clickthrough. Tuy nhiên trong những năm trở lại đây, clickthrough đã được chứng minh là chỉ số nghèo nàn trong khi đó view through (xem qua) đang được xem là chỉ số tối ưu hơn.

Ngày nay chúng ta đã có những chỉ số phân tích thực sự. Các chỉ số phân tích truyền thống là độ nhận biết (có hỗ trợ và không hỗ trợ) và brand lift (ý định mua)
Vizu vừa mới giới thiệu một nền tảng công nghệ có thể được tích hợp cho các nhà quảng cáo lớn. Sau đó Dynamic Logic và Insight Express cũng đưa ra những sản phẩm tương tự. Các chỉ số này phản ánh các cuộc khảo sát thường niên của P&G.

Perianne Grignon, VP Media Strategy & CMO, [x+1]

Chúng ta có thể bắt đầu bằng việc đánh giá sức khỏe thương hiệu. Sự nhận biết là một chỉ số khá rộng. Bộ thước đo hoàn chỉnh nhất hiện nay là Brand Asset Valuator của Y&R được giới thiệu từ thập niên 90. Đây có thể xem là bộ thước đo toàn diện phản ánh 4 yếu tố quan trọng: sự khác biệt, tính liên quan, sự yêu thích và nhận biết của khách hàng. Để khách hàng biết về sản phẩm, kế hoạch truyền thông cần phải tạo ra được độ phủ. Để tạo ra sự liên quan, thông điệp cần tới đúng đối tượng vào đúng thời điểm. Chiến lược truyền thông giúp tạo ra sự yêu thích và khác biệt bằng cách kết hợp chính xác thông điệp và đối tượng nhận.

Thước đo sức khỏe thương hiệu là độ phủ / tần xuất và đặc biệt là tần xuất hiệu quả vì những chỉ số này sẽ giúp các nhà hoạch định truyền thông kiểm soát được mối liên hệ giữa người đón nhận và thông điệp muốn truyền tải. 

Các nền tảng quảng cáo trực tuyến giúp tăng độ nhận biết và phạm vị kiểm soát. Điều này tạo cho nhà hoạch định khả năng bám sát kế hoạch đến từng giây. Cộng với các khảo sát như KN Dimestore, nhà hoạch định có thể đo lường và quản lý độ phủ/tần xuất và thu thập các chỉ số thương hiệu quan trọng dẫn tới yếu tố khác biệt, yêu thích, sự liên quan và nhận biết.

Molly Sugarman, Director, Digital Media Innovation, Horizon Media

Đã quá rõ ràng, việc kiểm soát chi phí truyền thông trên môi trường trực tuyến là rất quan trọng. Sự lỏng lẻo trong quá trình này có thể dẫn tới việc bội chi ngân sách và làm giảm hiệu quả truyền thông.
Vậy chính xác chúng ta đang trả tiền cho cái gì? Về lâu dài, tôi tin rằng chỉ số hiển thị “có thể thấy” sẽ trở nên quan trọng hơn đối với truyền thông trực tuyến trong 5 năm tới. Các ứng dụng công nghệ như RealVu giúp chúng ta nắm rõ bao nhiêu quảng cáo hiển thị đã được thực sự nhìn thấy. Từ đó nhà hoạch định sẽ có thể nhanh chóng đưa ra giá bid hợp lý hơn, giảm lãng phí và tôi ưu hóa chi phí bỏ ra.

Dĩ nhiên chúng ta không thể ngừng chạy quảng cáo trực tuyến vì bản thân ngành này còn chưa đưa ra được những thước đo chuẩn mực. Hiện nay cách để xác định hiệu quả quảng cáo trực tuyến là bằng các khảo sát định tính. Chính vì bản chất vốn có của quảng cáo trực tuyến là khả năng tự đo lường, nên chúng ta thường bị cuốn vào một lượng lớn dữ liệu thu thập được. Tuy nhiên, nếu không triển khai khảo sát thương hiệu song song với quá trình mua truyền thông, chúng ta sẽ không thấy được mối liên hệ giữa các chỉ số trên. Việc phân tầng các khảo sát thương hiệu sẽ cho phép chúng ta xác định các chỉ số liên quan tới độ nhận biết về sự yêu thích, thông qua đó sẽ phân bổ ngân sách hợp lý hơn.

Jason Lynn, Chief Strategy Officer, interclick

Các chỉ số đo lường của một chiến dịch thương hiệu trực tuyến có thể tương tự như chỉ số sử dụng trong chiến dịch truyền thống. 3 chỉ số quan trọng là brand recall (năng lực gợi nhớ), sự yêu thích và ý định mua.
Dù đã có các phương pháp đo lường, nhưng vẫn tồn tại khó khăn về mặt kĩ thuật để diễn giải các chỉ số một cách hợp lý trong môi trường trực tuyến. Có lẽ thách thức lớn nhất chính là việc xác lập quy trình trong đó chỉ số thương hiệu có thể được phân tích để đưa ra các hướng dẫn mua truyền thông.

Có thể nói rằng CTR (Click-through-rate) là chỉ số được sử dụng nhiều trong truyền thông trực tuyến. Đối với các chiến dịch có mục tiêu gắn kết, nhận định trên hoàn toàn hợp lý. Điều này cũng có thể lý giải rằng do CTR là chỉ số dễ dàng kiểm định mà không đòi hỏi quá nhiều sự hỗ trợ về kĩ thuật.

Daniel Davies, Director, US Ad Operations, adnetik

Việc đo lường thương hiệu cũng khó không kém việc định nghĩa chúng. Các nỗ lực xây dựng thương hiệu đều nhằm mục đích tạo ra ảnh hướng lâu dài tới hành vi người tiêu dùng và việc này đòi hỏi thời gian. Do đó việc đo lường hiệu quả không chỉ giới hạn ở các chỉ số phản hồi trực tiếp như chúng ta vẫn đang làm.

Khi xây dựng thương hiệu, bạn cần biết được rằng liệu người xem có thực sự nhìn thấy quảng cáo, và nếu có thì liệu người này có bị quảng cáo tác động. Và sự tác động này chính là yếu tố cần được đo lường. Từ lâu chỉ số click đã tạo ra một bước phát triển trong ngành quảng cáo trực tuyến. Khi ai đó click vào mẫu quảng cáo, điều này có nghĩa là người đó rất quan tâm tới nội dung đang được giới thiệu. Tuy nhiên chỉ số này chưa nói lên được sức mạnh của quảng cáo, chính là sự thay đổi nhận thức. Chỉ dựa vào chỉ số click hay chuyển đổi trên trang web không đủ để đo lường được khả năng này.

Đối với tôi, chỉ số quan trọng là khảo sát ý định mua. Một khảo sát thương hiệu được triển khai tốt có thể giúp bạn biết được chiến lược sáng tạo đã ảnh hưởng và thay đổi ý kiến người xem thế nào. Chỉ số quan trọng tiếp theo chính là các công cụ gắn kết, ví dụ như video hay rich media vì chúng có thể đo lường sự tương tác giữa người sử dụng với thương hiệu.

John Ebbert

Phạm Vũ Hoàng Quân / AdExchange.com

Friday, July 29, 2011

Chúng ta là thế hệ lười biếng nhất?


Đối lập với sự dấn thân của các thế hệ trước, nhiều người thời chúng ta chỉ tham gia đấu tranh trong chủ nghĩa trì trệ: nhấn nút "Like" trên Facebook, ký một bản kiến nghị trực tuyến, hoặc đăng lại suy nghĩ của người khác trên Twitter của mình.
Con người chúng ta đang là thế hệ của show truyền hình thực tế. Thay vì hành động, chúng ta chỉ ngồi xem: xem người ta hát, nhảy cùng các ngôi sao, chọn vợ/chồng, trang trí cho ngôi nhà và khuôn mặt của họ một cách thái quá, tăng cân, giảm cân, vào trại cai nghiện, bị phóng hỏa, hoặc sống sót.
Và bản tính tò mò cố hữu đang tràn lan vào cuộc sống mỗi ngày. Nhờ có Facebook, Twitter, Google +, Youtube và hàng loạt phương tiện truyền thông xã hội khác, cả thế giới giờ đây thật sự giống như một sân khấu lớn, và mỗi người chúng ta là một diễn viên trong show truyền hình thực tế của cuộc sống, đóng cả vai "ngôi sao" hay học giả tự phong.
Quan sát các sự kiện và bình luận chúng trên phương tiện truyền thông xã hội đã trở thành tín ngưỡng mới của nước Mỹ. Người ta khắc khoải chờ thông tin mới về một người nổi tiếng rơi vào thảm cảnh, một chính trị gia khác vướng vào bê bối tình dục, các phán quyết về bản án tử hình cao hơn hoặc đơn giản chỉ là một người bạn làm gì đó ngốc nghếch khiến chúng ta có thể nhanh chóng bắt đầu "vái lạy" các "ban thờ" đặt trên phương tiện truyền thông xã hội, để đưa ra quan điểm, lời đùa cợt, nhạo báng và đôi khi cũng bắt gặp những suy nghĩ sâu sắc.
Trong quá khứ, người ta thuật lại việc họ đang ở đâu khi một sự kiện lịch sử xảy ra, ví dụ như ngày tổng thống Kennedy bị ám sát, về vụ nổ tàu con thoi trong không gian hay vụ tấn công khủng bố ngày 11/9. Trong tương lai, chúng ta sẽ gợi lại lịch sử khi chúng ta tweet, đăng bài hoặc đọc về tin lịch sử đó trên các phương tiện thông tin xã hội.
Vâng, điều đó thật hài hước, nhưng có một vấn đề khiến tôi ngày càng trăn trở: Có phải chúng ta đang trở thành thế hệ lười biếng nhất?
Có phải truyền thông xã hội đang trở thành thứ thuốc phiện của quần chúng, quyến rũ chúng ta trở thành những con người trì trệ, khiến chúng ta tin một cách đơn giản rằng bởi vì chúng ta đã bình luận trên không gian mạng, nên theo cách nào đó chúng ta cũng thực sự tác động đến thế giới? Liệu thế hệ của chúng ta có để lại một di sản lâu dài hay chỉ là hàng triệu những dòng tweet đầy châm biếm?
Hãy nhìn vào những thế hệ đi trước: vào những năm 1940 và 1950, có một "Thế hệ vĩ đại", một thế hệ của những người thực hiện, không phải là những người-quan-sát. Bằng sự cống hiến, đạo đức nghề nghiệp và hi sinh cao cả của họ mà nước Mỹ đã trở thành một cường quốc kinh tế.
Theo sau họ là những người thuộc thế hệ của những năm 1960 và 1970, một thế hệ đã xuống đường để phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam, và sử dụng báo chí để đấu tranh cho dân quyền, khiến chính sách đối nội đối ngoại của nước Mỹ phải thay đổi.
Ảnh minh họa
Đối lập với sự dấn thân của họ, nhiều người thời chúng ta chỉ tham gia đấu tranh trong chủ nghĩa trì trệ: nhấn nút "Like" (thích) trên Facebook, ký một bản kiến nghị trực tuyến, hoặc đăng lại suy nghĩ của người khác trên Twitter của mình.
Đó là một khởi đầu tốt, nhưng cần nhiều hơn thế để mang đến sự thay đổi có ý nghĩa. Hãy thử nhìn xa hơn vào cuộc cách mạng dân chủ gần đây trong các nước Ả-rập. Những người đấu tranh đã tận dụng phương tiện truyền thông, nhưng họ không chỉ đăng bình luận trên Facebook của mọi người và ngồi yên đó; mà sau đó họ còn xuống đường và mạo hiểm mạng sống để đấu tranh cho sự thay đổi. Tất cả những dòng tweet trên thế giới sẽ không thể tác động đến Tổng thống Ai Cập hoặc Tunisia đang ngồi trong phòng làm việc của mình.
Điều gì khả dĩ hơn khiến thế hệ của chúng ta sẽ xuống đường để biểu tình phản đối: một vấn đề chính trị nóng hổi hay là việc Facebook sẽ áp đặt một khoản phí sử dụng?
Tôi biết rằng trong thế giới đang ngày một phức tạp và đầy thách thức hiện nay, dường như một cá nhân không thể gây tác động đến những vấn đề đang đe dọa đất nước hoặc hành tinh, nhưng bạn có thể, và nếu bạn chọn lựa, bạn sẽ làm được.
Như tổng thống Robert F. Kennedy từng nói: "Rất ít người có đủ sự vĩ đại để thay đổi lịch sử; nhưng mỗi người chúng ta có thể hành động để thay đổi những phần nhỏ của các sự kiện; và toàn bộ những hành động đó sẽ được ghi lại trong lịch sử của thế hệ".
Tôi không cổ xúy việc ngừng sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, thực tế, hãy "follow" (theo dõi) tôi trên Twitter, hoặc thêm tôi vào danh sách bạn bè trên Facebook và Google+. Nhưng nếu có một vấn đề nào đó mà bạn thực sự muốn tạo nên sự khác biệt, thì cần phải làm nhiều hơn là một dòng tweet 140 ký tự  hoặc cập nhật trạng thái trên Facebook.
  • Như Nguyệt (theo CNN)