Saturday, March 30, 2013

HỌC ĂN HỌC NÓI, HỌC GÓI HỌC MỞ, LÀM TỪ THIỆN CÀNG PHẢI HỌC!

HỌC ĂN HỌC NÓI, HỌC GÓI HỌC MỞ, LÀM TỪ THIỆN CÀNG PHẢI HỌC!



Bữa nay đi cafe với bạn Trang và bạn Quang có câu chuyện thú vị thế này. 

Bạn Trang nói rằng bạn biết một số trung tâm, nhà thờ trong Sài Gòn có cưu mang đối tượng là bà mẹ trẻ đơn thân. Đó có thể là đối tượng bị lạm dụng, cũng có thể là đối tượng "hư hỏng" lỡ làng. Bây giờ bạn muốn nhờ mình - với vai trò một người có ảnh hưởng, khi nào rảnh có thể lên tiếng giúp để quyên tiền cho những trung tâm đó.

Mình nói ngay, câu trả lời chắc chắn là không! Nhân tiện mình cũng nói thêm, rất nhiều người khác cũng hay nhờ mình share này kia, lên tiếng kêu gọi này khác mình cũng "say no" một cách chắc như đinh đóng cột. Bạn Quang nghe thấy thế hỏi tại sao? Bạn Quang nói rằng bạn vẫn ủng hộ cho quỹ Cơm Có Thịt và vẫn tích cực share cho các chương trình khác. Vậy tại sao mình không làm như thế?

Trước khi trả lời bạn, mình cần phải nói rằng có 2 "cái bẫy" mà một số người làm từ thiện hay mắc phải.

Thứ nhất là câu hỏi giúp bao nhiêu cho đủ?

Hãy thử hình dung, nếu bạn đã ủng hộ cho một quỹ từ thiện 100$, rồi mua giúp cho 2 bà già 4 tờ vé số. Điều gì xảy ra nếu có bà bán vé số thứ 3 xuất hiện? Hoặc là bạn "cắn răng" mua tiếp hoặc là bạn phải "muối mặt" từ chối. Nếu mua tiếp, bạn sẽ làm gì với bà bán vé số thứ 4? Còn nếu từ chối, bạn có bị "cắn rứt lương tâm" khi giúp cho bà già này mà không giúp cho bà già khác?

Thực ra. Bạn sẽ hoàn toàn không phải rơi vào tình cảnh "tiến thoái lưỡng nan" như vậy nếu biết rằng chúng ta chỉ nên chi ra 5% thu nhập cho việc "cho đi". Tức là, nếu thu nhập của bạn là 10.000.000đ mỗi tháng, thì bạn chỉ cần "cho đi" 500.000đ là "đủ". Sau khi đã cho đi như vậy, bạn không phải "cắn rứt lương tâm" vì giúp cho người này mà bỏ qua người khác. Bạn không có nghĩa vụ và không thể giúp được cho cả xã hội hay thế giới.

Trong "cái bẫy" số 1 này còn một cái bẫy nhỏ nữa đó là nhiều người lẫn lộn giữa việc "cho đi" và "từ thiện". Từ thiện chỉ là một cách cực nhỏ để cho đi. Ngoại trừ việc bạn "cho đi" chính bản thân bạn thì tính vào tiền "hưởng thụ" hoặc mang đi học tập thì tính vào tiền "giáo dục", còn lại hãy "cho đi" trước nhất là ông bà cha mẹ, anh chị cô dì chú bác, bạn bè thầy cô...

Hãy dành ra 5% thu nhập để mua cho ba một cái quần tây mới, mua cho mẹ chiếc áo bà ba, mua cho anh chị nửa ký mãng cầu, mua cho ông bà cân đường hộp sữa, chai dầu gió, lọ thuốc ho... Đó mới chính là việc cho đi cần làm trước nhất. Đừng bao giờ nghĩ đến việc mang tiền đi làm từ thiện, cúng chùa cúng phật, giải cứu chó mèo... khi chưa làm được những việc "cho đi" ở ngôi quan trọng nhất.

Mình thấy nhiều bạn "đáng thương" khi chưa hiểu rõ điều này và tự "xấu hổ" khi than thở rằng "anh ơi em thấy anh làm từ thiện suốt mà em chỉ lo được cho bản thân và thỉnh thoảng cho được bố mẹ ít tiền. Thấy người ta ủng hộ từ thiện em xấu hổ quá". Theo đúng lý thuyết thì các bạn đang cho đi vô cùng đúng đắn. Tại sao phải xấu hổ?

Trái lại, có những người suốt ngày chùa chiền cúng bái, khoe làm từ thiện tiền trăm ngàn bạc triệu nhưng ba mẹ bỏ mặc quanh năm không động viên thăm hỏi mua cho tứ thân phụ mẫu được manh quà tấm bánh. Làm như vậy thì không đáng được coi là từ thiện.

Cái bẫy thứ hai mà một số bạn "nghiện" làm từ thiện hay mắc phải là mặc nhiên cho rằng mọi người phải chung một cảm giác, phải đồng cảm với các chương trình của bạn. Nếu các bạn hô lên mà người khác không hưởng ứng thì nhẹ bị coi là vô cảm, nặng bị coi là thứ khốn nạn, đểu cảng, xài tiền như nước mà không giúp cho từ thiện.

Các bạn không biết rằng mỗi người có một "góc khuất", một số vấn đề tổn thương khác nhau trong cuộc sống. Bất cứ khi nào gặp những vấn đề như vậy, chúng ta rơi vào trạng thái "unbalance". Những người "unbalance nặng" hoặc thời điểm họ rơi vào trạng thái "unbalance" là lúc dễ tác động nhất để "dẫn dắt" họ tới với các chương trình từ thiện.

Khi làm từ thiện, đặc biệt là giúp cho những đối tượng đúng hoàn cảnh, góc khuất bản thân là lúc chúng ta được "balance" trở lại. Vậy khi bạn hô lên mà người ta không hưởng ứng, thì hoặc là uy tín bạn chưa có đủ, hoặc bạn đang tác động vào một đối tượng đang rất "balance", hoặc nếu dù có ở trạng thái "unbalance" thì dự án từ thiện của bạn cũng không giúp giải toả những góc khuất sâu kín làm tổn thương tâm hồn họ.

Quay trở lại câu hỏi của bạn Quang, mình có thể trả lời với bạn rằng thứ nhất, quỹ cho đi của mình dành cho những người thân và dự án Ngày Hạnh Phúc đã là quá đủ. Thứ hai là dù "say no" với bất cứ chương trình từ thiện nào khác thì mình vẫn tự tin rằng mình là người tốt nên chẳng có gì mà mình phải ngại. Mình cảm thấy rất hạnh phúc, rất cân bằng với cuộc sống hiện tại. Khi nào "unbalance" biết đâu mình sẽ chủ động liên hệ lại với các bạn ấy sau?

P/s: bài viết này mình có áp dụng một số kiến thức về tâm lý học ứng dụng do một người chị gái làm giám đốc tài chính cho Quỹ từ thiện lớn của Việt Nam chia sẻ lại. Tks chị yêu nhiều nhé!



Nguyễn Ngọc Long

Monday, February 4, 2013

22 quy luật bất biến trong marketing




1. Quy luật tiên phong

Trở thành người dẫn đầu sẽ hiệu quả hơn trở thành người giỏi nhất

Vấn đề cơ bản trong marketing là tạo ra những chủng loại sản phẩm mới mà công ty của bạn là người đi đầu. Xuất hiện đúng thời điểm và ý tưởng không quá tồi. Khi đó, việc đi vào tâm trí khách hàng sẽ dễ hơn so với việc thuyết phục khách hàng là sản phẩm, dịch vụ của bạn tốt hơn người đi trước.

Trong môi trường cạnh tranh ngày nay, một sản phẩm ra đời với tinh thần “tôi cũng thế” sẽ có rất ít hy vọng trở thành một thương hiệu lớn, sinh lời.

Nếu muốn đưa thương hiệu đầu tiên của một chủng loại sản phẩm hoàn toàn mới ra thị trường, bạn phải chọn cho thương hiệu đó một cái tên dễ trở thành phổ biến.

Khi đã trở thành phổ biến, nhiều tên thương hiệu bắt đầu được sử dụng để chỉ cả dòng sản phẩm. Marketing là cuộc chiến về quan niệm, suy nghĩ, không phải là một cuộc chiến về chất lượng.

2. Quy luật chủng loại

Nếu bạn không thể trở thành người tiên phong trong một chủng loại sản phẩm nào đó, hãy chọn một sản phẩm mới mà bạn có thể trở thành người tiên phong

Nếu sản phẩm hay dịch vụ của công ty bạn không phải là thương hiệu đầu tiên đi vào tâm trí khách hàng, bạn hãy kiên nhẫn, tìm một mặt hàng hay sản phẩm khác.

Sau khi IBM thành công vang dội trong thị trường máy tính, bảy công ty khác đổ xô vào lĩnh vực này nhưng không thể cạnh tranh nổi.

Tuy nhiên, DEC cho ra đời máy tính mini và đã dẫn đầu lĩnh vực máy tính này. Dell bước chân vào lĩnh vực này là công ty đầu tiên bán máy tính qua điện thoại và đã có chỗ đứng vững chắc.

Điều này trái ngược hoàn toàn với tư duy marketing truyền thống là hướng vào thương hiệu. Nhưng lúc này bạn phải tạm quên về thương hiệu mà hãy nghĩ đến sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm mới lạ, chứ không phải là sản phẩm tốt hơn.

3. Quy luật ghi nhớ

Được khách hàng nhớ đến đầu tiên sẽ hiệu quả hơn là xuất hiện đầu tiên trên thị trường

Việc xuất hiện sớm nhất trên thị trường chỉ quan trọng nếu điều đó cho phép thương hiệu của bạn được mọi người nhớ đến trước tiên. Quy luật ghi nhớ phát sinh từ quy luật nhận thức.

Bạn cần phải giành được chỗ đứng trong tâm trí của khách hàng trước khi giành chỗ đứng trên thị trường. Một khi tâm trí đã định hình điều gì thì khả năng thay đổi tâm trí vô cùng khó khăn, thậm chí hầu như không thể.

Khó khăn của Apple trong việc giành chỗ đứng trong tâm trí của khách hàng được giải quyết một phần nhờ cái tên đơn giản và dễ nhớ của nó, và nhất là nhờ nỗ lực marketing ở quy mô lớn.

Bạn cần phải có nguồn tài chính ổn định và tương đối để thiết kế và chế tạo sản phẩm, xây dựng hệ thống dịch vụ, tổ chức họp báo, tham dự triển lãm, chạy quảng cáo v.v… tìm mọi cách để đưa ý tưởng, hình ảnh thương hiệu vào tâm trí khách hàng tiềm năng.

4. Quy luật nhận thức

Marketing không phải là cuộc chiến về sản phẩm mà là cuộc chiến về nhận thức

Tất cả những gì tồn tại trong thế giới marketing chỉ là nhận thức. Tất cả các thứ khác đều là ảo tưởng. Nhiều sai lầm trong marketing xuất phát từ ảo tưởng rằng chúng ta đang đua tranh về chất lượng sản phẩm.

Khách hàng Nhật nhận thức về xe gắn máy hiệu Honda là chất lượng chứ không phải là xe hơi hiệu Honda. Trái lại, nhận thức của khách hàng Mỹ là chất lượng xe hơi hiệu Honda rất đáng tin cậy.

Khách hàng cũng thường đưa ra những quyết định mua hàng dựa theo nhận thức của số đông “tất cả mọi người đều bảo như thế”. Cho nên, việc thay đổi nhận thức của khách hàng là một vấn đề. Việc nghiên cứu cơ chế hình thành nhận thức của khách hàng là việc quan trọng trong chương trình marketing.

5. Quy luật tập trung

Vũ khí mạnh mẽ nhất trong marketing là gắn được một từ ngữ vào tâm trí khách hàng

Bạn mở đường vào tâm trí khách hàng bằng cách thu hẹp diện tập trung của khách hàng vào một điểm, một từ hay một cụm từ duy nhất nhưng phải cô đọng, súc tích mà mô tả được đặc tính sẵn có trong sản phẩm của bạn đồng thời hướng vào lợi ích của khách hàng.

Từ “Groupware” (phần mềm nhóm) đã mang lại cho Lotus vị thế vững vàng lâu dài trong thị trường phần mềm cũng giống như từ “overnight” (ý nói “ngay lập tức”) cho Federal Express và “safety” (an toàn) cho Volvo.

6. Quy luật độc quyền

Hai công ty không thể có chung một ấn tượng trong tâm trí khách hàng tiềm năng

Khi một công ty đã gắn được một từ hay một cụm từ vào sản phẩm của mình, chiếm được một vị trí nhất định trong tâm trí khách hàng thì thật là vô ích cho các đối thủ cạnh tranh khi họ nỗ lực để sở hữu từ hay cụm từ đó.

Volvo đã gây ấn tượng mạnh mẽ với khách hàng với thuộc tính “safety”. Các công ty khác như Mercedes-Benz và GM cũng nỗ lực tổ chức những chiến dịch marketing nhấn mạnh tiêu chí “safety” nhưng không thành công.

Thuộc tính “nhanh” đã thuộc về McDonald’s. Burger King tổ chức chiến dịch quảng cáo với khẩu hiệu “Best food for fast times” (Thức ăn phù hợp nhất cho thời đại tốc độ) đã làm cho Burger King tuột dốc thê thảm.

Làm như vậy là vi phạm quy luật độc quyền và vô tình củng cố thêm vị thế của đối thủ cạnh tranh, làm nổi bật các tính chất ưu việt của họ hơn nữa.

7. Quy luật nấc thang

Chiến lược bạn sử dụng tùy thuộc vào việc bạn đang ở nấc thang nào

Tất cả các sản phẩm đều “không được sinh ra bình đẳng”. Đối với mỗi chủng loại sản phẩm, tâm trí khách hàng lại đặt ra một thang sản phẩm khác nhau. Bạn phải biết được thương hiệu của bạn nằm ở nấc thang nào để có chiến lược marketing phù hợp.

Bản tính con người luôn kén chọn. Họ chỉ chấp nhận dữ liệu thông tin mới nếu dữ liệu đó phù hợp với thang chất lượng mà họ đặt ra.

Avis chỉ đứng thứ hai trong thị trường cho thuê xe. Họ nỗ lực quảng cáo: “Finest in rent-a-cars” (dịch vụ cho thuê xe tốt nhất).

Khách hàng nghi ngờ suốt 13 năm liên tục, Avis đã tiêu tốn rất nhiều tiền nhưng không hiệu quả. Khi ITT mua lại Avis, họ thừa nhận vị trí của mình trên thang sản phẩm và thay đổi quảng cáo: “Avis sắp trở thành số 1”. Avis đã thành công.

8. Quy luật song đôi

Cuối cùng, mọi thị trường đều trở thành một cuộc đua song mã

Lúc ban đầu, bất kỳ ngành hàng mới nào cũng là một chiếc thang nhiều bậc. Dần dần, chiếc thang này chỉ còn là sự cạnh tranh giữa 2 bậc trên cùng.

Ý thức được rằng marketing cuối cùng cũng sẽ là cuộc đua song mã có thể giúp bạn hoạch định chiến lược phát triển trong ngắn hạn.

Trước đây, Royal Crown tiến hành nâng cấp để diệt Coke và Pepsi, nhưng cuối cùng thương hiệu bị tiêu diệt lại là Royal Crown. Khi ở vị trí thứ ba, lẽ ra họ nên tìm một chỗ trú chân thích hợp, tập trung vào sản phẩm của mình để từng bước sinh lợi từ đó.

Hiện nay đang có 130 thương hiệu máy tính xách tay trên thị trường. Và quy luật song đôi dự đoán rằng rất ít thương hiệu trong số này có khả năng tồn tại lâu dài.

9. Quy luật đối nghịch

Nếu bạn muốn nhắm vào vị trí thứ hai, chiến lược của bạn sẽ phụ thuộc vào người tiên phong

Cho dù sản phẩm hay dịch vụ tiên phong có hùng mạnh đến mức nào, vẫn luôn có cơ hội cho một sản phẩm hay dịch vụ khác có thể xếp ở vị trí thứ hai lật ngược tình thế.

Bạn phải khám phá ra bản chất của sản phẩm tiên phong, sau đó hãy cung cấp cho khách hàng tiềm năng cái đối lập với bản chất đó. Nói cách khác, đừng cố gắng làm tốt hơn công ty đi trước bạn, mà cố gắng tạo sự khác biệt.

Nhưng bạn đừng ở mức đơn giản là chấm dứt cạnh tranh. Quy luật đối nghịch như một thanh kiếm hai lưỡi. Đầu tiên bạn tập trung nhấn mạnh vào điểm yếu của sản phẩm cạnh tranh sao cho khách hàng thừa nhận điểm yếu đó. Sau đó, hãy nhanh chóng lật lại lưỡi kiếm.

Những năm thành công của Burger King là những năm họ ở thế tấn công vào sản xuất hàng loạt và rán thịt (thay vì nướng thịt) như McDonald’s.

Nhưng sau đó họ bỏ qua quy luật đối nghịch, ngừng tấn công McDonald’s, lợi nhuận của Burger King sụt giảm và khó quay trở lại vị trí họ đã từng nắm giữ.

10. Quy luật phân chia

Theo thời gian, một chủng loại sản phẩm sẽ phân chia và trở thành hai hoặc nhiều chủng loại

Thương trường được xem như một biển hàng hóa không ngừng mở rộng. Ban đầu, một ngành hàng chỉ gồm một loại sản phẩm duy nhất, nhưng theo thời gian, sản phẩm này sẽ tự chia nhỏ thành nhiều loại sản phẩm khác. Mỗi phân nhánh lại có thương hiệu đứng đầu riêng, thương hiệu này hiếm khi trùng với thương hiệu đứng đầu của chủng loại sản phẩm gốc.

Nhiều công ty đã sai lầm khi cố gắng lấy tên thương hiệu nổi tiếng của một chủng loại sản phẩm để sử dụng cho các sản phẩm khác.
Bạn nên nhanh chóng khai thác một chủng loại sản phẩm mới và sẵn sàng dành thời gian và cam kết theo đuổi cho đến khi chủng loại sản phẩm đó đủ mạnh để phát triển.

11. Quy luật viễn cảnh

Hiệu ứng marketing chỉ phát huy tác dụng sau một thời gian dài

Nhiều hoạt động marketing, kết quả trong dài hạn thường đối lập hoàn toàn với kết quả trong ngắn hạn.

Việc giảm giá sẽ làm tăng doanh thu trong ngắn hạn nhưng nếu giảm giá dài hạn sẽ kéo theo việc giảm doanh thu. Khách hàng đã quen và suy nghĩ “không nên mua hàng ở mức giá bình thường” hay mức giá thường ngày người bán đặt ra quá cao.

Hình thức khuyến mãi bằng phiếu thưởng, thẻ cào, xổ số may mắn sẽ làm tăng doanh thu trong dài hạn. Tuy nhiên, khi ngừng đợt khuyến mãi doanh thu sẽ tụt giảm ngay. Như vậy có nghĩa là phiếu thưởng không phải để tăng doanh thu nhưng để giữ doanh thu khỏi tụt giảm.

Phiếu thưởng như một chất ma túy. Nếu không phát hành phiếu thưởng, không giảm giá thì sao? Trong hoạt động bán lẻ, kẻ chiến thắng là những công ty thực hiện “ngày nào cũng bán giá thấp”.

12. Quy luật mở rộng

Việc mở rộng thêm nhãn hiệu thường là một áp lực không thể cưỡng lại được

Việc mở rộng thêm các sản phẩm là quá trình diễn ra liên tục gần như không cần bất cứ nỗ lực có ý thức nào từ phía các công ty.

Nhưng trong dài hạn và trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khốc liệt, mở rộng số lượng sản phẩm gần như hiếm khi đạt hiệu quả mong muốn.

Chiến lược mở rộng sản phẩm như dựng một cái lều to chứa tất cả mọi thứ. IBM đã dựng một cái lều như vậy, không có mặt hàng nào trên thị trường máy tính mà không lọt vào cái lều IBM được, đây là thực đơn để nấu món…thảm họa.

Đôi khi nhiều hơn là ít đi và ít hơn tức nhiều thêm. Mở rộng sản phẩm quá nhiều cuối cùng có thể dẫn đến suy thoái và rơi vào quên lãng. Trong thị trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay, muốn thành công bạn phải thu hẹp diện tập trung để xây dựng một chỗ đứng vững chắc trong tâm trí khách hàng.

13. Quy luật hy sinh

Để có được thứ gì đó, bạn phải từ bỏ một thứ khác

Trong nền kinh tế thị trường ngày nay, để thành công, bạn buộc phải hy sinh một trong ba thứ sau: dòng sản phẩm mới, thị trường mục tiêu hoặc sự thay đổi liên tục.

Để thành công, bạn không nên mở rộng mà phải thu hẹp dòng sản phẩm. Federal Express chỉ chuyên vào một dịch vụ duy nhất: bưu điện nhỏ, vận chuyển ngay lập tức (overnight). Họ đã thành công khi đưa khái niệm “ngay lập tức” vào tâm trí khách hàng. Nhưng khi F.E. trở thành công ty vận tải hàng không hoạt động trên toàn cầu nhưng không có vị thế toàn cầu, họ đã thua lỗ nặng.

Pepsi-Cola hy sinh mọi thứ, chỉ trừ thị trường dành cho tuổi teen, Pepsi đã xóa được khoảng cách doanh thu với Coke. Nhưng khi Pepsi mở rộng cái lều “danh mục sản phẩm”, họ đã ngã gục trước cám dỗ này.

Cách tốt nhất để duy trì một vị thế ổn định là kiên quyết đi theo con đường đã chọn, hy sinh sự thay đổi liên tục, vì bám theo những chuyển biến của thị trường bạn sẽ bị đánh bật khỏi hành trình bạn đang đi.

14. Quy luật đặc tính

Bất cứ một đặc tính sản phẩm nào cũng có một đặc tính đối nghịch và hiệu quả đi kèm

Muốn thành công, bản phải có ý tưởng tạo cho sản phẩm của mình một đặc tính riêng mà bạn có thể dồn sức phát triển. Mức độ quan trọng của đặc tính này là phải đối nghịch với đặc tính sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Mỗi đặc tính tùy thuộc theo từng đối tượng khách hàng.

Burger King đã không thành công khi cố giành giật đặc tính “fast” từ tay McDonald’s. Nhưng họ nhìn thấy một đặc tính khác mà McDonald’s đang sở hữu: trẻ em (thể hiện qua các cửa hàng).

Burger King có cơ hội định vị họ là người “phục vụ cho nhóm khách hàng trưởng thành”, quả là một thị trường không nhỏ.

15. Quy luật thành thật

Khi bạn thừa nhận một nhược điểm, khách hàng tiềm năng sẽ cho bạn một ưu điểm

Sự thành thật sẽ làm người nghe bớt giận và chấp nhận ngay. Ngược lại, những nhận định tích cực sẽ bị soi xét một cách đầy nghi hoặc, nhất là trong quảng cáo.

Hãy mạnh dạn thừa nhận nhược điểm của mình và sau đó biến nhược điểm đó thành điểm mạnh vượt trội.

Khi Scope bước chân vào thị trường với sản phẩm kem đánh răng “có hương thơm”, họ đã đánh trúng điểm yếu của Listerine, loại kem đánh răng “có mùi bệnh viện”.

Listerine không thanh minh về mùi vị của mình mà thành thật trong các mẩu quảng cáo của họ với khẩu hiệu “mùi vị mà bạn ghét đến hai lần trong ngày”. Điều này nảy sinh một nhận thức trong tâm trí của khách hàng là Listerine “diệt rất nhiều vi khuẩn”. Khủng hoảng đã trôi qua nhờ sự can thiệp của một liều thuốc “thành thật”.

16. Quy luật đòn then chốt

Trong mỗi tình huống, chỉ cần một hành động duy nhất sẽ mang lại nhiều kết quả đáng kể

Một số người làm marketing xem thành công là tổng thể những nỗ lực đơn lẻ được thực hiện một cách hoàn hảo. Họ luôn tin rằng cách tốt nhất để phát triển kinh doanh là nhúng mũi vào mọi lĩnh vực.

Nhưng những bài học kinh nghiệm chứng minh rằng điều duy nhất mang lại hiệu quả trong marketing là đánh một đòn then chốt.

Người Nhật đánh G.M bằng dòng sản phẩm cực bình dân với các loại xe nhỏ Toyota, Datsun, Honda.

Người Đức đánh G.M bằng dòng sản phẩm cao cấp, đắt tiền như Mercedes và BMW. Và cuối cùng Ford ra một đòn nữa, đánh vào tuyến giữa của G.M với mẫu xe hiệu châu Âu Taurus và Sable. GM hầu như suy yếu trên khắp mặt trận.

Coke chỉ có một đòn duy nhất, áp dụng quy luật hy sinh, bỏ sản phẩm New Coke ra, định vị lại thương hiệu Coca-Cola cổ điển là “sản phẩm đích thực”, tạo dựng ấn tượng trong tâm trí khách hàng. Đó là “đòn then chốt” để cạnh tranh với Pepsi.

17. Quy luật không thể dự đoán

Nếu không phải là người lập kế hoạch của đối thủ cạnh tranh, bạn không thể đoán trước được điều gì sẽ xảy ra

Ẩn chứa trong các kế hoạch marketing là một giả định về tương lai. Tuy nhiên, những giả định này thường không chính xác. Vậy chúng ta cần phải làm gì để xử lý tốt nhất những cái “không thể dự đoán được?”

Tận dụng sự thay đổi trên thị trường, chúng ta có thể kiểm soát cái gọi là “xu hướng”. Ví dụ, người Mỹ ngày càng quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe. Xu hướng này có thể mở đường cho sự ra đời một số sản phẩm mới.

Bám theo xu hướng là một công cụ hữu hiệu để đương đầu với tương lai vốn không thể tiên đoán. Bạn phải tạo cho tổ chức của bạn khả năng linh động thật lớn. Khi làn sóng thay đổi tràn đến và lan vào lĩnh vực kinh doanh của bạn, bạn phải sẵn sàng nhanh chóng thay đổi nếu muốn tồn tại trong dài hạn.

Ngày hôm qua, General Motors chậm phản ứng với xu thế xe hơi loại nhỏ, điều đó đã bắt công ty phải trả giá khá đắt ngày hôm nay.

18. Quy luật thành công

Thành công thường dẫn đến kiêu ngạo, và kiêu ngạo sẽ dẫn đến thất bại!

Khi đã thành công, con người có xu hướng ít khách quan hơn.

Nhưng trong kinh doanh, sự khách quan là yếu tố vô cùng quan trọng và thiết yếu. Thành công thường là nguyên nhân chết người ẩn đằng sau sự xuất hiện ồ ạt những thương hiệu mới mở.

Có người cho rằng, sự thành công đến từ cái tên của thương hiệu. Thành công đã thổi phồng cái tôi con người lên, họ gắn cái tên nổi tiếng lên các sản phẩm khác, hậu quả: thành công đến sớm, thất bại kéo dài.

Sai lầm xảy đến khi cái tôi bị đưa vào quá trình marketing. Người làm marketing tài năng phải có khả năng tư duy như khách hàng, đặt mình vào vị trí khách hàng, không áp đặt quan điểm chủ quan của mình vào chiến lược marketing.

Để khỏi bị rơi vào “cái bẫy thành công”, nếu bạn là CEO, bạn không nên giao phó hoàn toàn công tác marketing cho cấp dưới, mà phải “vi hành”. Bạn phải tập trung thời gian, toàn tâm, toàn ý vào marketing.

19. Quy luật thất bại

Thất bại là điều cần được dự báo và chấp nhận

Hình như người Nhật thường có khả năng nhận ra sai lầm từ sớm và nhanh chóng tiến hành thay đổi cần thiết. Kiểu quản lý đồng thuận của họ có xu hướng tiêu diệt cái tôi cá nhân, nên họ chấp nhận cái sai có vẻ dễ chịu hơn.

Ở Wal-Mart sẽ không có ai bị trừng phạt nếu thử nghiệm thất bại, chỉ trách những người lặp lại cùng một sai lầm.

Thật khó trở thành người đi đầu trong một dòng sản phẩm mới nếu bạn không dám đưa ra những quyết định táo bạo. Môi trường lý tưởng là các nhà quản lý đánh giá một ý tưởng dựa vào các khía cạnh tích cực của chính ý tưởng, chứ không phải đánh giá xem, ý tưởng đó sẽ đem lại lợi ích cho ai.

Có như thế mới tạo ra tinh thần tập thể và mọi người sẽ biết quên mình vì tập thể.

20. Quy luật cường điệu

Tình hình thực tế thường trái ngược hoàn toàn với những gì giới truyền thông đưa tin

Nếu mọi thứ vẫn đang diễn tiến tốt đẹp, không công ty nào cần đến sự cường điệu, họ cường điệu khi công ty rơi vào tình huống khó khăn.

Không sản phẩm nước ngọt nào được báo chí thổi phồng như New Coke, nhưng chỉ hai tháng sau Coca-Cola phải quay trở về với sản phẩm truyền thống.

Sau chiến tranh, trực thăng được ca ngợi như một phương tiện cá nhân tối ưu, không cần làm đường sá, xe hơi sẽ lỗi thời.

Sự thổi phồng, xét về bản chất, không chỉ là tuyên bố rằng sản phẩm mới sẽ thành công mà còn hứa hẹn thay đổi cả một ngành nghề.

Không hẳn không có chút sự thật nào trong sự cường điệu, nhưng nhìn chung cường điệu vẫn là cường điệu. Cuộc cách mạng thực sự không đến vào lúc thị trường đang lên cao trào. Cuộc cách mạng thực sự sẽ đến mà không báo trước, vào những lúc bất ngờ nhất.

21. Quy luật gia tốc

Các chương trình thành công thường không được xây dựng dựa vào những mốt nhất thời, mà dựa vào khuynh hướng

Mốt là một con sóng, còn xu thế là thủy triều.

Mốt được tạo thành bởi sự cường điệu, còn xu thế rất ít được thổi phồng. Mốt dễ nhìn thấy, lên xuống rất nhanh, mau tan. Xu thế thì như thủy triều hình như vô hình, nhưng mãnh liệt, dữ dội và kéo dài.

Hiện tượng ngắn hạn có thể mang lại lợi nhuận tức thời nhưng không đủ sức làm lợi cho công ty về mặt lâu dài. Khi mốt biến mất, công ty rơi vào tình trạng khủng hoảng.

Đứng trước một ngành nghề đang phát triển nhanh chóng, với tất cả các đặc điểm của mình. Việc tốt nhất bạn nên làm là dội nước lạnh lên cái mốt đó. Nghĩa là, bạn hãy cố gắng làm suy yếu nó. Một trong những cách duy trì nhu cầu dài hạn là không bao giờ thỏa mãn hoàn toàn nhu cầu đó. Xu thế dài hạn là cái đem lại lợi nhuận và hiệu quả nhất trong một chiến lược marketing.

22. Quy luật nguồn lực

Một ý tưởng sẽ không thể trở thành hiện thực nếu không nhận được sự hỗ trợ đầy đủ về mặt tài chính

Ý tưởng hay nhất thế giới cũng không thể trở thành hiện thực nếu nó không nhận được đủ nguồn tài chính tương xứng.

Steve Jobs và Steve Wozniak có ý tưởng vĩ đại. Nhưng chính nhờ 91.000 USD của Mike Markkula mà máy tính của Apple có tên trên bản đồ kinh tế thế giới.

Ý tưởng mà không có nguồn tài chính để thực hiện là ý tưởng vô dụng. Hãy sẵn sàng cho đi thật nhiều để đổi lấy tài trợ.

Trong marketing, người giàu thường sẽ giàu hơn vì họ có đủ nguồn lực để phát triển ý tưởng của họ thành một ý niệm trong tâm trí khách hàng. Các nhà marketing thành công là người biết ứng trước khoản đầu tư của họ.

Họ sẽ mất từ hai đến ba năm không lợi nhuận, đó là thời gian quay vòng toàn bộ số tiền thu được và đầu tư trở lại vào marketing. Nếu muốn thành công, bạn phải tìm ra số tiền mình cần để quay vòng những bánh xe marketing đó.

Lời kết

Một số quy luật đã nêu gần như đi ngược với tiêu chí, tôn chỉ hoạt động, thông lệ và bản sắc của một số công ty.

Quy luật “nhận thức” đối nghịch quan niệm “phấn đấu hơn” của một số người tìm mọi cách để đánh bại người đứng đầu.

Một số người không chấp nhận quy luật “tiên phong” vì họ muốn vươn lên vị trí hàng đầu do nội lực chứ không phải do có mặt đầu tiên.

“Đáp ứng mọi nhu cầu của thị trường” là quan niệm của nhiều người chứ không chịu chấp nhận quy luật “hy sinh”.

Quy luật “viễn cảnh” và quy luật “không thể dự đoán” có thể đem lại sự thất vọng cho bạn.

Nhưng phải nhớ rằng, 22 quy luật này có tính bất biến, nếu vi phạm chúng, bạn sẽ chuốc lấy rủi ro. Hãy kiên nhẫn áp dụng, những quy luật này sẽ đưa bạn đến thành công.

Người tóm tắt: TRẦN PHÚ AN (nhuongquyenvietnam.com)

Saturday, December 15, 2012

Kỹ Năng Marketing quan trọng


Các kỹ năng marketing mà một người làm marketing cần nắm vững để có thể thể hiện tốt vai trò marketing trong tổ chức, doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường hội nhập.
 
 
 
 
 
 1. Kỹ năng nghiên cứu và phân tích khách hàng và thị trường
 
Marketing hiện đại không bắt đầu từ trong phòng máy lạnh, lại càng không bắt đầu từ ý muốn chủ quan của những người trong công ty, marketing bắt đầu từ thị trường, từ nhu cầu người tiêu dùng, từ các yếu tố tác động đến hoạt động doanh nghiệp như môi trường vĩ mô và vi mô, và từ các đối thủ cạnh tranh. Người làm marketing phải biết thu thập thông tin và phân tích khách hàng và thị trường.
 
2. Kỹ năng phân khúc thị trường
 
Thị trường bao la, việc cung cấp một sản phẩm/dịch vụ chung cho tất cả thị trường không còn phù hợp trong thị trường trăm người bán vạn người mua như ngày nay. Người làm thị trường phải biết cách "đọc" thị trường theo cách riêng của mình với những mảng thị trường đặc trưng khác nhau. Nói một cách khác là phải nắm vững kỹ thuật phân khúc thị trường.
 
3. Kỹ năng phân tích lợi thế cạnh tranh
 
Hoạt động của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh bị chi phối bởi các đối thủ cạnh tranh. Tổ tiên người Việt đã nói "biết người, biết ta trăm trận trăm thắng", người làm thị trường phải biết vị trí cạnh tranh của mình so với từng đối thủ để từ đó có thể đề ra chiến lược cạnh tranh thích hợp.
 
4. Kỹ năng xác định thị trường mục tiêu
 
Trong một bối cảnh thị trường đa dạng và phong phú như ngày nay, câu hỏi "thị trường nào tôi nên cạnh tranh, thì trường nào tôi không nên?" luôn là một câu hỏi lớn mang tính chiến lược mà từng doanh nghiệp phải trả lời. Người làm marketing phải biết kỹ thuật phân tích để trên cơ sở đó xác định thị trường nào phù hợp với năng lực, đặc thù của doanh nghiệp mình.
 
5. Kỹ năng hoạch định chiến lược marketing
 
Chiến lược marketing là kim chỉ nam, là cơ sở để hoạch định marketing mix, người làm thị trường ở cấp quản lý phải có khả năng hoạch định chiến lược để định hướng cho hoạt động marketing và xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp.
 
6. Kỹ năng định vị
Trên cơ sở những hiểu biết về nhu cầu và tâm lý tiêu dùng của khách hàng, hiểu biết về chiến lược của đối thủ cạnh tranh, người làm marketing cần có năng lực định vị thương hiệu để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm và xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp.
 
7. Kỹ năng xây dựng đề xuất giá trị (CVP)
 
Trên cơ sở những hiểu biết về khách hàng, người làm marketing phải có năng lực xây dựng đề xuất giá trị (customer value proposition) đáp ứng nhu cầu và làm hài lòng khách hàng, tạo ra lợi thế ưu việt so với đối thủ.
 
8. Kỹ năng phát triển sản phẩm mới
 
Doanh nghiệp luôn cần sản phẩm mới để phát triển trong khi theo thống kê trên 70% sản phẩm mới ra đời bị thất bại trong 2 năm đầu tiên. Để giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp, người làm marketing phải nắm được những nguyên tắc cơ bản và qui trình phát triển sản phẩm mới nhằm đảm bảo sự thành công khi tung sản phẩm mới ra thị trường.
 
9. Kỹ năng phát triển thị trường mới
 
Song song với việc phát triển sản phẩm mới, phát triển thị trường mới cũng là một nhu cầu thường xuyên của doanh nghiệp, người làm marketing cần nắm được những nguyên tắc, kỹ thuật và lộ trình hoạch định chiến lược phát triển thị trường mới.
 
10. Kỹ năng xây dựng chiến lược giá
 
Doanh nghiệp phát triển sản phẩm và cung cấp dịch vụ để mang lại lợi ích cho khách hàng, thế còn lợi ích của doanh nghiệp thì ai lo? Người làm marketing phải có kỹ năng xây dựng chiến lược giá để thu lại giá trị và tối ưu hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp.
 
11. Kỹ năng xây dựng chiến lược và quản trị kênh
 
Thị trường là bao la, nhưng nếu không biết cách và đi lạc lối thì sẽ gặp khó khăn và không thể phát triển. Đã có nhiều doanh nghiệp thất bại vì không có một chiến lược thâm nhập thị trường thích hợp. Người làm marketing phải có năng lực hoạch định chiến lược kênh marketing để đưa sản phẩm/dịch vụ đến với khách hàng một cách hiệu quả.
 
12. Kỹ năng xây dựng chiến lược truyền thông
 
Để quảng bá cho giải pháp giá trị của mình, để tạo ra những cảm nhận tốt về thương hiệu, hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của các sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp, người làm marketing cần phải nắm vững kỹ năng hoạch định chiến lược truyền thông và biết sử dụng những công cụ truyền thông hiện đại nhằm mang lại hiệu quả tối ưu. Kỹ năng nầy thực sự quan trọng trong bối cảnh doanh nghiệp hoạt động với một ngân sách marketing hạn chế.
 
13. Kỹ năng xây dựng chiến lược và quản trị thương hiệu
 
Doanh nghiệp cần xây dựng một thương hiệu, hay một hệ thống thương hiệu thân thiện, gần gủi trong tâm trí của khách hàng. Người làm marketing cần phải nắm những nguyên tắc cần thiết để hoạch định và quản trị một chiến lược thương hiệu nhất quán với tầm nhìn, sứ mệnh, và phù hợp với chiến lược lâu dài của doanh nghiệp.
 
14. Kỹ năng hoạch định kế hoạch marketing ngắn hạn và trung hạn
 
Chiến lược là xương sống, là kim chỉ nam, là lợi thế cạnh tranh bền vững, là yếu tố mang tính sống còn đối với doanh nghiệp. Việc hoạch định chiến lược nói chung và chiến lược marketing nói riêng luôn đòi hỏi phải nắm vững kiến thức và kỹ năng để có thể dẫn dắt tổ chức tham gia trong suốt quá trình hoạch định kế hoạch.
 
15. Kỹ năng quản trị dự án marketing
 
Để tổ chức tung một sản phẩm mới, khai phá một thị trường mới, hay triển khai một sáng kiến marketing thành công, người làm marketing phải nắm được những kiến thức và kỹ năng cần thiết của công tác quản trị dự án marketing.
 
16. Kỹ năng tổ chức và quản lý hoạt động marketing
 
Có được một chiến lược tốt, một kế hoạch được hoạch định tốt chỉ mới quyết định 50% thành công, 50% còn lại phụ thuộc vào việc triển khai thực hiện. Để đảm bảo thực hiện thành công kế hoạch marketing, người làm marketing phải có kỹ năng tổ chức và triển khai hoạt động marketing.
 
17. Kỹ năng lãnh đạo
 
Vị trí đứng đầu bộ phận marketing là một vị trí cao cấp trong bộ máy tổ chức doanh nghiệp. Hơn thế nữa, người đảm nhận vị trí CMO hoặc tương đương sẽ phải có trách nhiệm lãnh đạo đội ngũ nhân viên, chuyên viên của phòng marketing. Do vậy để có thể hoàn thành tốt trên cương vị nầy người đứng đầu bộ phận marketing ngoài các kỹ năng chuyên môn cần phải có kỹ năng lãnh đạo.  
 
Nguồn từ marketing – branding.vn

Không chỉ là YouTube: Khởi động tiếp thị và bán hàng với video


Tại sao Google không do dự khi bỏ ra 1,6 tỷ USD để mua lại Youtube, trang web chia ẻ video qua mạng? Lý do rất đơn giản.

Youtube ServiceTrừ khi chúng ta thực sự ở trong cùng một căn phòng với ai đó, video luôn là công cụ giao tiếp mạnh mẽ nhất mà chúng ta có được, và YouTube đã đưa giao tiếp video tới tận tay tất cả mọi người qua mạng internet.

Với chức năng này, tính phổ biến của trang web lan toả rộng khắp và các nhà tiếp thị ở mọi nơi cảm thấy hết sức nóng gáy khi nghĩ tới Youtube. Một cảm giác thúc đẩy hành động là hết sức mạnh mẽ.


Nhưng YouTube không là trò chơi duy nhất trong thị trấn.

Đối với các nhà tiếp thị nào thực sự quan tâm tới việc sử dụng hiệu quả các giao tiếp video, chìa khoá để thành công là tìm kiếm những công cụ thích hợp.

Bạn có muốn ghi lại một thông điệp video cho những lần xem tuỳ thích? Bạn có muốn thực hiện các đoạn video trực tiếp từ một cuộc họp lớn, cuộc hội thảo hay một sự kiện nào khác? Bạn có muốn nhiều thứ hơn một đoạn video bình thường, chẳng hạn như chat tin nhắn, bầu chọn, Q&A hay các trình diễn dọc theo video của bạn?

Một loạt các công cụ khác nhau trên đầu ngón tay các nhà giao tiếp có thể giúp đỡ hoàn thành rất nhiều công việc khác nhau: các khoá đào tạo tương tác, các trình diễn bán hàng video, các cuộc hội thảo video trực tiếp với kháh hàng, các đoạn voicemail video được ghi lại, và nhiều tiện ích khác nữa.

Các công ty từ nhiều lĩnh vực khác nhau, như sức khoẻ, công nghệ, tài chính, quảng cáo,... đang bắt đầu sử dụng video để hoàn thành các mục tiêu kinh doanh.

Ví dụ, một nhà sản xuất thiết bị y tế tung lên mạng đoạn băng video quay trực tiếp một ca phẫu thuật để tiếp thị cho một thiết bị sử dụng trong phẫu thuật tim. Việc này giúp các bác sỹ phẫu thuật trên toàn thế giới - những khách hàng tiềm năng của nhà sản xuất này - thấy được thiết bị vận hành thực tế ra sao trong một ca phẫu thuật.

Một câu châm ngôn không còn mới mẻ trong tiếp thị ngày nay: Hãy trình diễn, đừng nói.

Nhà sản xuất thiết bị y tế trên cũng bổ sung cho sức mạnh của giao tiếp video bằng việc phối kết hợp một hệ thống tự động quản lý đăng ký người xem, xác nhận và gửi email theo sau cùng những báo cáo thống kê người sử dụng. Qua đây giúp công ty theo dõi và xác định được kết quả của chiến dịch tiếp thị video đã thực hiện.


Vậy con đường đưa video vào các chiến dịch tiếp thị tổng thể được bắt đầu ra sao? 

Trước tiên, bạn cần tìm ra một mục tiêu thích hợp cho nó. Sẽ thật vô nghĩa với việc quay một ai đó trước ống kính camera và đọc cuốn sách hướng dẫn về một phần mềm giúp các công ty kiểm soát hàng tồn kho.

Nhưng nếu bạn đến tận văn phòng của khách hàng, giới thiệu các đoạn băng video thú vị quay từ một nhà máy sản xuất với lượng hàng hoá lớn, phỏng vấn những người có thể nói về tầm quan trọng của việc tự động hoá kiểm soát hàng tồn kho cũng như cho thấy nụ cười trên khuôn mặt họ, điều đó mới thực sự ý nghĩa.

Tiếp theo, hãy cẩn thận quan tâm tới những gì bạn phải giới thiệu và cách thức tốt nhất để truyền tải chúng:

- Đối với các trình diễn kinh doanh có thể ghi lại hay trình chiếu trực tiếp cùng với  các slide PowerPoint và nhiều yếu tố giàu chất truyền thông khác, hãy thử những công cụ kiểu như Proclaim.

- Nếu bạn cần một cách thức dễ dàng để đưa video lên mạng internet và chia sẻ nó với người khác, hãy thử những công cụ như YouTube hay Blip.tv.

Bạn nên quan tâm tới việc đăng tải các video của bạn dưới dạng các file video có thể xem được ở nhiều thiết bị khác nhau, từ máy tính, máy điện thoại di động tới iPod. Điều này sẽ giúp đẩy mạnh số lượng người xem video của bạn, thêm vào đó còn cho phép người xem linh hoạt hơn trong việc lưu giữ video vào các thiết bị cá nhân của ho và thưởng thức nó ở bất cứ nơi nào, vào bất cứ thời điểm nào và theo bất cứ phương thức nào họ thích.  
Khi đến thời điểm xây dựng và chỉnh sửa video, bạn sẽ thấy rằng mình khó có đủ khả năng như Steven Spielberg để đảm bảo cho một video hoàn chỉnh. Gary Anderson, CEO của hãng cung cấp dịch vụ webcasting khuyên rằng các nhà tiếp thị nên nhờ đến sự giúp đỡ của các chuyên gia, hay ít nhất là những ai đã từng làm tốt một video clip trước đó.


Một vài lời khuyên tiếp thị video


- Có được độ sáng tốt: Nếu quá tối, video của bạn sẽ mờ và rất khó xem do chất lượng đường truyền hiện nay có chưa được tốt nhất. Đừng đặt tiêu đề của đoạn video ở nơi có ánh sáng quá lớn, như vậy mọi người sẽ không thể nhìn thấy tiêu đề.

- Các nhân vật trong video không nên mặc quần áo sọc: Rất nhiều trường hợp xuất hiện những ảo giác khi chúng ta nhìn một hình ảnh nào đó các vạch đen và trắng ở gần nhau. Đó là những gì một bộ quần áo sọc có thể được nhìn thấy trên ống kính camera.

- Nếu bạn đang nỗ lực lôi kéo mối quan tâm và sự gắn kết của ai đó, hãy khích lệ thật mạnh mẽ. Bạn có thể đưa những giai điệu sôi động làm nhạc nền. Nếu bạn đang kể một câu chuyện gây xúc động, hãy làm chậm mọi thứ và để cảm xúc tuôn trào. Nếu bạn thấy nhàm chán và không quan tâm tới việc xem video của mình, chắc hẳn không một người xem nào có cảm giác khác với bạn.

- Luôn có thể ngắn hơn: Cho dù bạn đang ghi lại một video voicemail hay sản xuất một video có nội dung rõ ràng, đừng để nó kéo dài lê thê. Hãy đặt ra các yêu cầu cụ thể cho mục tiêu và giá trị của từng clip, từng đoạn hay thậm chí từng cảnh. Hãy tôn trọng thời gian và giá trị sự quan tâm của các người xem.


Không quan tâm tới việc bạn thực hiện những gì với video trực tuyến, đừng quên rằng video chỉ là một phần trong chiến dịch tiếp thị tổng thể, chứ không phải dự án đứng một mình.

Hãy nghĩ về cách thức video sẽ khích lệ mọi người ghé thăm một trang web, gọi điện cho một nhân viên bán hàng, yêu cầu thêm các thông tin, hay tiến hành một vài hành động nào đó mà bạn có thể dự tính và qua đó góp phần vào thành công chung của các mục tiêu tiếp thị và bán hàng. 




Nguồn tin: vietnambranding.com

Monday, December 10, 2012

5 ngộ nhận về sự hài lòng của khách hàng


Bạn có nghĩ doanh nghiệp của mình đã làm hài lòng khách hàng? Có những điều mà bạn chưa biết hoặc chưa hoàn toàn hiểu rõ. Hãy cũng khám phá nhé!



Đa số các nhãn hiệu kinh doanh đa thương hiệu đều nhận thức được sự quan trọng của sự hài lòng của khách hàng. Điều đó đồng nghĩa với sự phát triển về mọi mặt: sức mua tăng, nhiều chi nhánh của bạn sẽ được mở ra, doanh thu lớn hơn và thương hiệu của bạn sẽ được nhiều người biết đến. Nhưng các công ty thường rơi vào cái bẫy về sự hài lòng của các khách hàng mà thường có những ngộ nhận sai lầm.

Bạn luôn muốn làm hài lòng khách hàng, nhưng bạn muốn làm điều đó một cách đơn giản và hiệu quả? Ngày càng nhiều nhà bán lẻ muốn thúc đẩy tăng trưởng bằng cách xem xét các phản hồi và lòng trung thành của khách hàng. Nhưng những điều này là kết quả chứ không phải là nguyên nhân, và không hề có một giải pháp duy nhất nào có thể giải quyết được tất cả các vấn đề.

Sau đây là 5 sai lầm thường thấy nhất trong quá trình đánh giá sự hài lòng của khách hàng.


Ngộ nhận thứ nhất: Trong bán lẻ (đặc biệt là các nhà bán lẻ giảm giá), yếu tố giá cả là quan trọng nhất, sự hài lòng của khách hàng phụ thuộc nhiều vào giá cả.

Khi làm việc với một nhà bán lẻ đa thương hiệu có chiến lược giá cả khác nhau cho mỗi thương hiệu, chúng tôi phát hiện ra rằng, dù giá cả có một ảnh hưởng khá rõ ràng tới quyết định mua ban đầu của khách hàng nhưng nó không tác động nhiều tới sự hài lòng của khách hàng. Điều đó không sai, giá cả đóng một vai trò quan trọng đối với tất cả các thương hiệu của công ty trong việc thúc đẩy sự hài lòng, nhưng hiểu sai về tác động của các yếu tố khác làm cho khách hàng hài lòng sẽ là một sai lầm rất lớn.

Chúng tôi nhận thấy rằng đối với tất cả các thương hiệu, sự tương tác của nhân viên bán hàng với sự hài lòng của khách hàng ảnh hưởng nhiều hơn so với giá cả. Điều này cho thấy các nhà bán lẻ nên tập trung thu hút các nguồn nhân lực tốt thay vì các chiến lược giảm giá. Một nhà bán lẻ có thể tìm thấy nhân sự thích hợp cho các vị trí bán hàng. Vấn đề là không được giả định bất cứ điều gì mà không cần kiểm tra lại lý thuyết.

Thực tế là: Bất kể bạn đang hoạt động trong lĩnh vực nào và chính sách giá cả của bạn ra sao, yếu tố then chốt vẫn là tìm hiểu những khía cạnh ảnh hưởng tới sự hài lòng của khách hàng.

Ngộ nhận thứ hai: Bạn có thể làm hài lòng khách hàng qua các chiến dịch quảng cáo hay các phiếu giảm giá.

Sự thật là việc gửi thư quảng cáo cùng các phiếu giảm giá sẽ làm tăng khả năng khách hàng sẽ quay trở lại với bạn thêm nhiều lần nữa, nhưng chúng không làm cho khách hàng hài lòng hơn. Họ quay lại cửa hàng của bạn những lần sau đó vì họ mong muốn nhận được thêm các phiếu giảm giá như thế nữa.

Nhưng khi làm việc với một nhà bán lẻ áp dụng chính sách giảm giá khuyến mãi, chúng tôi nhận thấy rằng khách hàng đã có ấn tượng tốt với doanh nghiệp là lý do chính để họ quay lại nhiều hơn so với những người nhận được giảm giá đặc biệt.

Thực tế: Sự hài lòng của khách hàng mới đưa ra những phương pháp hiệu quả hơn để xây dựng thành công lâu dài so với các chương trình khuyến mãi về giá chiết khấu.


Ngộ nhận thứ ba: sự hài lòng của khách hàng nên được tối đa hóa.

Thực tế là bạn cần tối ưu hóa sự hài lòng của khách hàng, chứ không phải tối đa hóa nó. Tất cả các nhà bán lẻ sẽ đạt đến một điểm mà nó không còn có lợi nhuận, để làm hài lòng mọi khách hàng. Tối đa hoá sự hài lòng thực sự dễ dàng, mặc dù lợi nhuận sẽ ít hơn, sau đó phân bổ nguồn lực hiệu quả nhất. Trong một ví dụ, một nhà bán lẻ có thể cung cấp cho sản phẩm của mình miễn phí, hoạt động 24/7, và có một thủ quỹ cá nhân cho từng khách hàng. Khi ấy khách hàng có thể cực kỳ hài lòng, thì các nhà bán lẻ chắc chắn sẽ không kinh doanh được lâu dài. Muốn trụ vững, một doanh nghiệp cần phải có một phương pháp ​​cải tiến để thúc đẩy tăng trưởng lợi nhuận và cải tiến tài nguyên.

Ví dụ, chúng tôi làm việc với một nhãn hiệu kinh doanh đa kênh mà gần đây đã hoàn thành một chương trình đổi mới tích cực để giải quyết các vấn đề nghiêm trọng ở các cửa hàng của họ. Đã có một sự thay đổi toàn diện vì các cửa hàng đã cũ, cách bố trí của chúng gây khó khăn cho khách hàng khi tìm kiếm những thứ họ cần. Các nhà bán lẻ đã cải thiện mặt tiền, cách bố trí cửa hàng và nhìn thấy một sự gia tăng đáng kể trong sự hài lòng của khách hàng. Nhà quản lý có thể sử dụng hệ thống đánh giá sự hài lòng của khách hàng của mình để chứng minh rằng chỉ cần thay đổi đến một mức độ nào đó. Bằng cách biết khi nào dừng lại, công ty đã có thể tập trung nguồn lực hạn chế của mình để ưu tiên các vấn đề khác như tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI).

Thực tế: Phải làm cho khách hàng hài lòng, nhưng không nhất thiết phải hoàn toàn hài lòng.

Ngộ nhận 4: Khiếu nại của khách hàng nên được giảm thiểu đến mức tối đa.

Quá nhiều doanh nghiệp không tích cực phản hồi lại các khiếu nại, và quá thường xuyên xao nhãng việc xử lý các khiếu nại mà họ nhận được. Đúng là quản lý khiếu nại có thể rất tốn kém, nhưng lắng nghe và phân tích các khiếu nại của khách hàng nên được xem như là một cơ hội quý báu để các doanh nghiệp tìm hiểu về các khiếm khuyết trong các sản phẩm hoặc các lỗ hổng quá trình kinh doanh, từ đó có thể được rút kinh nghiệm và xây dựng được một mối quan hệ tốt đẹp hơn với khách hàng, từ đó có thể tạo dựng được sự tin tưởng và lòng trung thành nơi khách hàng.

Một nhà bán lẻ mà chúng tôi làm việc đã quyết định thay đổi để giúp khách hàng được khiếu nại dễ dàng hơn. Các cửa hàng khuyến khích khách hàng không hài lòng có thể nêu ý kiến với người quản lý. Qua các cuộc trưng cầu ý kiến của khách hàng, các nhà bán lẻ nhận thấy khiếu nại của khách hàng đã tăng gấp đôi trong vòng 12 tháng qua. Đồng thời, theo tính toán của cửa hàng khiếu nại của khách hàng được xử lý bằng cách liên kết như thế tăng 15%, và chỉ số hài lòng chung của công ty đã tăng lên đáng kể. Bài học ở đây: Nếu khách hàng không phàn nàn điều gì, họ đơn giản chỉ là ngừng mua sắm mà không cần giải thích. Nếu đó là lý do rõ ràng tại sao họ không hài lòng, bạn có thể sửa chữa tình hình để tiếp tục duy trì lòng trung thành của khách hàng trước khi họ chọn “một đi không trở lại”.

Thực tế là: Nên có những khiếu nại của khách hàng để doanh nghiệp rút kinh nghiệm, nhưng thất bại trong việc tìm kiếm và giải quyết khiếu nại của khách hàng có thể làm tổn thương tới uy tín của doanh nghiệp.


Ngộ nhận thứ năm: Không nên đánh đồng lượng khách hàng hài lòng hay không hài lòng

Nhiều doanh nghiệp đo lường thành công hay thất bại qua những gì tỷ lệ phần trăm hài lòng của khách hàng. Họ nhìn vào báo cáo đánh giá rằng 75% khách hàng hài lòng và 25% không hài lòng. Hoặc họ chỉ nhìn vào tỷ lệ phần trăm khách hàng "hoàn toàn hài lòng" - những người đánh giá đánh giá họ ở cao nhất. Sự thật là sự hài lòng của khách hàng là một chỉ số phức tạp, không dễ dàng thể hiện được qua các con số. 75% khách hàng là "hài lòng" chưa chắc đã hoàn toàn hài lòng, và 25% những người "không hài lòng" có thể vẫn hài lòng, nhưng hài lòng với mức độ thấp hơn.

Bạn hãy thử suy nghĩ về chỉ số hài lòng như sự thông minh vậy: Con người chúng ta không có ai “thông minh tuyệt đối” hay “hoàn toàn ngu ngốc”, vì thế chúng ta cần phải có chỉ số IQ để đánh giá trí thông minh của con người dựa trên một số tiêu chí. Đánh giá sự hài lòng qua tỷ lệ phần trăm thường dẫn tới kết quả không chính xác, và có thể khiến các doanh nghiệp đưa ra những quyết định sai lầm.

Một minh hoạ nữa cho hiện tượng này là một khách hàng đã mua một chiếc áo len trên 1 trang web và trước đó người này đã có một kinh nghiệm mua sắm tuyệt vời. Website rất hữu ích (tốt), áo len chất lượng tốt (tốt), quá trình thanh toán rất dễ dàng (tốt). Tuy nhiên, chiếc áo len bị hỏng ngay lần giặt đầu tiên và nó đã được trả lại (xấu). Khách hàng gọi đến trung tâm dịch vụ khách hàng và phàn nàn (xấu), nhưng cuối cùng đã khách hàng có thể trả lại món đồ (tốt). Không thể nói vị khách hàng "hoàn toàn hài lòng" hoặc "hoàn toàn không hài lòng", bởi vì những kinh nghiệm riêng của họ không thể giúp họ chọn được một sản phẩm hoàn toàn ưng ý. Toàn bộ kinh nghiệm của người tiêu dùng cần phải được hiểu theo một cách mà sẽ cho phép bạn thực hiện sự đổi mới - những điều mà sẽ thu hút khách trở lại cửa hàng.

Thực tế là: quá đơn giản sự hài lòng của khách hàng làm tăng nguy cơ đưa ra những quyết định sai. Bằng cách hiểu được tâm lý khách hàng, bạn có thể cải thiện lĩnh vực yếu kém và đầu tư vào các lĩnh vực thế mạnh.

Vậy, cách giải quyết ở đây là gì?

Thực sự hiểu biết về sự hài lòng của khách hàng là điều cần thiết cho sự thành công của một công ty, nhưng không cần biết quá nhiều. Điều quan trọng là cần áp dụng một phương pháp chính xác để xác định các giải pháp đơn giản, hiệu quả, điều này sẽ làm giảm rủi ro trong những quyết định kinh doanh khó khăn nhất. Sự hài lòng toàn diện của khách hàng cho phép bạn nhìn vào tương lai chứ không phải quá khứ, vì sự hài lòng của khách hàng là một yếu tố dự báo đã được chứng minh như lòng trung thành, sự giới thiệu, và thậm chí là giá cổ phiếu tài chính.

Khi cầm trên tay những sáng kiến cùng quỹ ngân sách có giới hạn, chắc chắn bạn sẽ phải cân nhắc để chọn ra những điều tốt nhất để có thể đưa khách hàng quay trở lại với mình. Bạn cũng nên nhớ rằng luôn có một lượng chi phí ẩn nhất định để trả giá cho những quyết định sai lầm hay không tối ưu. Hành vi của khách hàng sẽ cho chúng ta biết điều gì là quan trọng nhất đối với họ, và các phương pháp nếu được áp dụng đúng sẽ mang lại lợi nhuận cho chúng ta.

Khi thực hiện các sáng kiến ​​để làm hài lòng của khách hàngchúng ta nên làm với tất cả thận trọng và quyết tâm của mình. Khi một nhà bán lẻ hành động dựa trên sự hài lòng của khách hàng mà quyết định phân bổ nguồn tài nguyên thì họ có thể sẽ tăng trưởng một cách đáng kể.

Tuesday, November 27, 2012

3 Câu chuyện thú vị trong bán hàng



BA CÂU CHUYỆN THÚ VỊ 

Câu chuyện thứ nhất: 

Có hai cô bán trái cây đều xinh xắn và ăn nói khéo léo như nhau. Một cô tên là A và người còn lại tên là B. Thế nhưng, cô B lúc nào cũng bán được đắt hàng hơn cô A. Tại sao thế?

Nguyên nhân: Khi cô A bỏ trái cây vào bịch cân cho khách, cô thường lấy dư (ví dụ: khách mua 1kg, cô thường bốc dư thành 1.2, 1.3kg) và phải bốc bớt ra. Ngược lại, cô B thường bỏ ít (0.8 kg chằng hạn) rồi bốc thêm vào cho đủ 1kg.

Diễn giải: Cùng một lượng như nhau, nhưng cô A làm cho người mua hàng cảm giác phần trái cây của họ bị ít đi, trong khi đó cô B lại khiến họ tưởng rằng mình mua được nhiều hơn.

Câu chuyện thứ hai:

Có hai anh chàng nọ, cùng có thói quen hút thuốc trong nhà thờ. Một hôm, anh chàng thứ nhất hỏi cha xứ: “Liệu con có thể vừa nghe Kinh thánh vừa hút thuốc được không ạ?”. Cha không nói gì, nhưng mặt ông đanh lại và tỏ vẻ bực tức ghê gớm.

Một ngày khác, vẫn là vị cha đó, anh thứ hai hỏi: “Liệu con có thể vừa hút thuốc vừa nghe kinh thánh được không ạ?”. Ngạc nhiên thay, người cha xứ mỉm cười hiền từ và đồng ý cho anh ta làm như thế.

Diễn giải: Với anh thứ nhất, người cha cho rằng việc nghe kinh thánh là điều thiêng liêng, nên tập trung và dồn hết tâm tư tình cảm, càng không thể để những hành động như hút thuốc là làm xấu đi hình ảnh đó. Với anh thứ hai, người cha....lại cảm kích vì ngay cả vị cha này nghĩ, ngay cả khi anh ta hút thuốc lá, anh ta vẫn "khát khao" được nghe đọc kinh thánh. 

Câu chuyện thứ ba: 

Đạo diễn phim tài ba Steven Spielberg từng cho ra đời các tác phẩm “bom tấn” như “ Hàm cá mập”; “ Công viên kỷ Jura”; …Nhưng bạn có biết, Steven Spielberg từng bị ăn hiếp và bắt nạt khi ông còn học trung học, và điều lạ lùng hơn nữa là kẻ bắt nạt đó sau này là người bạn tốt của ông. Ông ta đã làm điều đó như thế nào? 

Khi ông 15 tuổi, ông luôn bị một kẻ trong trường bắt nạn, làm khủng hoảng tinh thần. Thế rồi một này nọ, ông đi gặp hắn và nói “Anh biết đấy, tôi đang làm một bộ phim gia đình ngắn về cuộc chiến với Đức quốc xã, và tôi không biết liệu anh có muốn đóng vai anh hùng chiến đấu hay không?” Lúc đầu kẻ bắt nạt cười vào mặt ông, nhưng vài ngày sau, hắn quay trở lại nói lời đồng ý. Sau bộ phim tự quay đó, kẻ bắt nạt đã trở thành bạn tốt của ông. 

Diễn giải: Đối phó với những người dễ xúc động, quá cứng nhắc, thậm chí từ chối việc thương lượng hoặc sử dụng thủ đoạn, cách tốt nhất thay vì tấn công đối thủ, bạn nên bước tới bên cạnh họ để có thể cùng nhau tấn công vấn đề. 

Kết luận: Ba câu chuyện trên cho chúng ta thấy rõ được 3 kỹ năng quan trọng quyết định sự thành công và đem lại hiệu quả bất ngờ đó là: 
Khéo léo trong giao tiếp; 
Chuyên nghiệp trong trình bày;
Năng lực trong đàm phán. 

Việc trang bị kiến thức về 3 kỹ năng này cho đội ngũ quản lý và nhân viên trong công ty không chỉ đem lại sự thành công trong quá trình quản lý, giao tiếp hay thực hiện thương vụ kinh doanh, mà nó còn định vị nên hình ảnh, thương hiệu và đẳng cấp của Doanh nghiệp đó. 

Trường Doanh Nhân PACE
-----------------------------
"Tinh thần mới, con người mới cho nền kinh thương mới"

Friday, November 23, 2012

Newsjacking: Làm thế nào để công ty bạn được nói đến?


Hãy cùng tìm hiểu khái niệm khá mới mẻ và những điều nên tránh khỏi với newsjacking

Newsjacking là một khái niệm để chỉ việc bạn hướng dư luận đến một chủ đề hoặc tin tức mới được cập nhật cho mục đích kinh doanh.
Các nhà báo cần thông tin hot còn thương hiệu cần sự chú ý. Nhà chiến lược marketing David Merman Scott đã giải thích ý nghĩ của cụm từ "newsjacking" và lí do tại sao nó lại giúp cả hai bên cùng có lợi- trừ khi bạn áp dụng sai cách. Bởi những nhà báo thường tranh giành những tin tức mới nhất nên ai cũng có thể dễ dàng tìm thấy nội dung toàn bộ câu chuyện từ website của nguồn tin, hoặc website đối thủ. Nhưng thử thách cho những nhà báo viết về kinh doanh là lấy được thông tin “tại sao” và diễn biến của sự việc. Tại sao giám đốc công ty lại nghỉ việc? Website của công ty có thể đưa ra những lời xin lỗi đại khái như “ Tại vì người đó muốn dành thời gian cho gia đình”. Tuy nhiên, đối thủ của công ty đó có thể trích lời phân tích của một số chuyên gia để tìm ra lí do thực, và đây là phần thu hút người xem hơn cả.


Từ đó, dễ thấy rằng những gì làm nên sự cuốn hút của bài báo chính là đoạn thứ hai- lời giải thích cho câu hỏi tại sao. Đó là lý do tại sao các newjacker lại đặt cho mình mục tiêu là sở hữu đoạn thứ hai, chính là một trong những ví dụ rõ ràng về Newsjack. Và với các marketer, newsjack chính là cách tận dụng những sự kiện mang tính nóng hổi để quảng bá cho thương hiệu của mình

Kate Winslet trở thành nữ anh hùng
Nếu bạn đủ nhanh nhạy để phản ứng với những thông tin mới, đưa ra nội dung hợp lí ở đoạn hai của bạn trên blog, tweet, hoặc một phương tiện truyền thông có liên quan đến sự kiện đang hot, bạn sẽ có được vận may nhờ sự chú ý của các phương tiện truyền thông đại chúng.  Bạn sẽ rất dễ dàng tìm ra câu chuyện về sở cứu hỏa London( LFB) với khả năng newsjack bằng tốc độ ánh sáng.

Richard Branson đã tổ chức tiệc cho diễn viên Kate Winslet và 20 người khách khác tại hòn đảo riêng của ông ấy vào năm 2011. Khi sét đánh tòa nhà gỗ và làm nó bốc cháy, Kate Winslet là người đã cứu người mẹ 90 tuổi của Branson thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Tin tức về việc giải cứu đó, đi kèm với những bức ảnh của đám cháy, nhanh chóng trở thành câu chuyện hàng đầu trên các diễn đàn truyền thông thế giới. Nhưng tất cả chỉ là những  mẩu tin ngắn, rất ít các báo có thông tin từ  nguồn, và tất nhiên, không có bất kì nhà báo nào trên hòn đảo. Trong vòng vài giờ sau những báo cáo đầu tiên về vai trò của Winslet trong việc giải cứu, LFB đã đề nghị Winslet được rèn luyện cùng với các lính cứu hỏa tại trung tâm đào tạo của họ. Lời đề nghị này đã được viết trong một câu chuyện của LFB và được post trên website của họ.


Đòn newsjack thông minh này đã giúp LFB thu hút được lượng lớn người quan tâm, và lời đề nghị với Winslet đã được đăng tải lên nhiều tờ báo trên toàn thế giới. Điều mà LFB làm- nhanh chóng post lời đề nghị của Winslet trên website của họ và thông báo tới các phóng viên- diễn ra không tới vài giờ và thực sự không hề ngốn bất cứ khoản tiền nào. Nhưng kết quả của việc cho phép các phương tiện truyền thông khác lấy thông tin lại trị giá hàng triệu USD. Đây rõ ràng là một nước cờ thành công bởi việc chọn thời điểm và thông điệp rất hoàn hảo.

Bạn cũng có thể newsjack, nhưng hãy nhớ cần cẩn thận.

Bạn hãy cân nhắc việc mọi vấn đề có thể gây  nhầm lẫn và những hậu quả tai hại.
Trong khi lên kế hoạch quảng cáo cho bộ sưu tập Arab Spring, Kenneth Cole đã cố gắng chèn thương hiệu của họ trong đoạn hội thoại về những  cuộc biểu tình ở Ai cập bằng cách post tweet dưới đây: “Hàng triệu người đang biểu tình ở Cairo. Tin đồn cho rằng lí do là họ đã nghe đến bộ sưu tập mùa xuân mới hiện đã có online tại http://bit.ly/KCairo – KC.” Lời quảng cáo này đã bị chỉ trích rất nhiều bởi các hãng truyền thông và sự tẩy chay của công chúng, dù mục đích của nó chỉ là gợi người đọc đến việc giới thiệu bộ sưu tập của họ bằng hashtag #Cairo.
Bài học rút ra là: Đừng cố gắng để lợi dụng tin tức khi nó rõ ràng thể hiện những thông tin tiêu cực, ví dụ như cái chết hoặc tổn thương. Không may mắn rằng nhà bán lẻ CelebBoutique đã không biết được lưu ý này, và đã đặt bản thân vào tình huống khó xử với một tweet nhẫn tâm trong vụ thảm sát bằng súng ở rạp chiếu phim ở Colorado với tweet sau:

Twitter là một kênh thông tin nhanh nhạy cho phép bạn có thông tin về một chủ đề nóng và có thể thảo luận về nó ngay tại thời điểm bạn truy cập. Nhưng bạn nên có những phát ngôn chân thật và có trách nhiệm.

Paris Hilton và Wynn Resorts

Hiểu chu kì hoạt động của tin tức sẽ là yếu tố tiên quyết để thương hiệu của bạn được chú ý bởi giới truyền thông.
Paris Hilton và bạn trai bị bắt vào tháng 8 năm 2010 vì tội sở hữu ma túy và lái xe trong tình trạng mất kiểm soát. Trong một tweet cho các fan sau đó, Hilton nói rằng: những tin bịa đặt đó thật nực cười, xuyên tạc và độc địa. Tôi thậm chí không để ý đến chúng, vì tôi biết sự thật. Cá nhân tôi không quan tâm nhiều đến phản ứng của Paris, nhưng tôi thật sự bị ấn tưởng bởi những gì xảy ra trước đó ngay sau khi câu chuyện bị phát giác. Jennifer Dunne- phát ngôn viên của Wynn Resorts đã tiết lộ với Associated Press rằng Hilton đã bị cấm vào Wynn Resorts- thuộc sở hữu Wynn Las vegas & Enccore. Hiện tại, giới truyền thông có thêm một tin mới: cô nàng tiệc tùng bị bắt, mà còn bị cấm bởi Wynn Resort. Lệnh cấm này sớm trở thành một trong những tình tiết không thể thiếu khi nhắc đến vụ bắt bớ lùm xùm của Paris. Tìm kiếm nhanh cụm từ “Paris Hilton Wynn” trên Google cho ra hơn 5286 câu chuyện từ các báo trên toàn cầu, tuy chủ đề câu chuyện là về Paris Hilton, nhưng Wynn resort mới được lợi. Họ đã có hơn 5000 câu chuyện mới có tên họ.


Tần suất được nhắc đến trong các phương tiện truyền thông sẽ tạo ra  hiệu quả lớn với PR. Trong một ngày, chỉ với một cuộc gọi, bà Dunne gần như đã làm được điều mà cả phòng PR của Wynn với cả một hệ thống nguồn lực và ngân sách không thể làm trong vòng một năm, làm cho hàng ngàn tờ báo viết về mình. Và nó thậm chí không mất đến một xu.
Newsjacking, hãy tự tin rằng bạn cũng có thể làm được.

Đóng góp nội dung: Phan Thu Trang/ http://sparksheet.com
Theo Gik. Vn