Thursday, November 15, 2012

Content Marketing : 4 Nguyên tắc khi kể chuyện



Con người muốn tương tác với những câu chuyện

Người nghe muốn kiểm soát những trải nghiệm cá nhân: 79% người được hỏi tưởng tượng rằng họ được cho phép thay đổi nội dung cốt truyện – bằng cách chính mình trở thành nhân vật chính (56%) hay thao tác trực tiếp (37%).

Những người sớm nắm bắt công nghệ sẵn sàng xây dựng và hỗ trợ 1 câu truyện có thể mô tả được ý kiến của họ

  • 93% sẵn sàng đưa các ý tưởng khả thi của mình cho các đạo diễn nội dung
  • 67% sẽ tạo hệ thống nhiều câu chuyện mà họ quan tâm (vd thông qua nền tảng Kickstarter)
  • 79% sẽ sử dụng mạng xã hội hay tạo các tài liệu quảng bá để ý tưởng này được xuất bản.

Hãy kể chuyện trên nhiều nền tảng media

Đối với early adopters, transmedia có ý nghĩa hơn là chỉ sao chép đơn thuần những trải nghiệm trên nền tảng media: 82% yêu thích ứng dụng ĐT mà sẽ giúp làm tăng trải nghiệm của họ khi xem TV, không chỉ đơn thuần sao chép lại nội dung, trong khi 68% thích các ứng dụng giúp họ truy cập vào những  nội dung mà họ đã xem trước đó.

Những gợi ý

Dựa trên các nghiên cứu, các tác giả đã trình bày nội dung của storytelling, với tựa đề “The 4 I’s” , bao gồm 4 ý chính sau:


  • Immersion: Đào sâu câu truyện thông qua bối cảnh và trải nghiệm trực quan
  • Tính tương tác: Cho phép khách hàng trở thành 1 phần của câu truyện và có thể sáng tạo kết thúc của câu truyện
  • Sự tích hợp: Có sự kết nối liền mạch giữa các đoạn
  • Nhân tố: Khuyến khích khách hàng tiếp nhận sản phẩm (chẳng hạn như: trả tiền cho sản phẩm, đăng ký dịch vụ, …)

“Cho tới thời điểm này, một trong những phát hiện lớn nhất của chúng tôi là sự xuất hiện của công nghệ mới, tức là, có 1 cơ hội rất tiềm năng chưa được khai phá, cho phép con người có thể trực tiếp biến những câu truyện thành câu truyện cuộc sống riêng của họ - mang chúng “ra khỏi màn hình”, thông qua sự kết nối với các nhân vật” Neela Sakaria, EVP, giám đốc quản lý của Latitude nhận định

“Chúng tôi đã biến các phát kiến của mình trở thành những quy tắc cơ bản, và hy vọng các nhà sáng tạo nội dung sẽ đón nhận một cách nồng nhiệt ý kiến đó, rằng khát khao về trải nghiệm nền tảng chéo (cross-platform) không phù hợp như nhiều người vẫn nghĩ”.

“Sáng kiến Storytelling không phải là một câu chuyện tưởng tượng. Nó tạo rất nhiều cơ hội thú vị  cho những nhà sáng tạo và ngay cả các nhà bán lẻ đã sử dụng ngững nguyên tắc Storytelling cơ bản để thu hút sự chú ý một cách sâu sắc của mọi người” Sakaria nói.

Số liệu: Đối tượng tham gia nghiên cứu ở độ tuổi 12-65, trong đó, 60% nam và 40% nữ,  cư trú tại Hoa Kỳ (78%) và những nơi khác như Australia, Đức, Nhật Bản, Singapore, Thụy Điển và vương quốc Anh. Hơn ¾ dân sở hữu và thường xuyên sử dụng smartphone, và 50% sở hữu tablets (44% sở hữu cả 2 loại)

Theo Marketingprofs

Content Marketing : Ba vòng tròn fan hâm mộ


Tuần trước, tôi có vinh dự được tham gia Hội nghị thường niên DMA 2012 có sự góp mặt của Scott Stratten. Sau đó, tôi đã mua một cuốn sách (tôi cực kỳ hiếm khi mua sách) có tựa đề “The Book of Business Awesome”, để tìm hiểu thêm về ý tưởng của Scott. Thực lòng mà nói, tôi quyết định mua nó cũng bởi vì tựa đề rất độc đáo.

Trong cuốn sách này ( thiên về dịch vụ khách hàng hơn là một cuốn sách về content marketing), Stratten viết phần “Three Circles of Content Sharing” (3 vòng tròn của sự chia sẻ nội dung)

The First Circle – Vòng tròn đầu tiên: Đó là những mối liên kết gần gũi nhất đồng thời cũng mạnh mẽ nhất của DN. Vòng tròn đầu tiên, họ là người thường chia sẻ nội dung  đơn giản chỉ vì lòng tin vào DN. Họ được coi là các “brand fans” (người hâm mộ thương hiệu).
The Second Circle – Vòng tròn thứ hai: Họ là bạn của những người trong vòng tròn đầu tiên. Họ nhìn thấy thông tin, bài viết,.. của công ty một cách thường xuyên nhờ sự chia sẻ của những người bạn trong vòng tròn đầu tiên.
The Third Circle – Vòng tròn thứ ba: Những người trong vòng tròn thứ ba có mối quan hệ nào đó với những người trong vòng tròn thứ hai – Doanh nghiệp nào cũng muốn nội dung của mình vươn tới được họ..


Theo học thuyết vòng tròn thứ ba, có vài điều cần phải nắm rõ:

-   Vòng tròn đầu tiên sẽ chia sẻ bất cứ điều gì từ bạn bởi họ yêu bạn vô điều kiện. Vì vậy, không nên quá đề cao vào những gì mà nhóm này chia sẻ.

-   Phần lớn các thương hiệu thất bại khi tiếp cận vòng tròn thứ hai. Chỉ cần có một hay hai lỗi trong nội dung mà vòng tròn thứ nhất chia sẻ thì bạn có nguy cơ mất vòng tròn thứ hai mãi mãi. Điều đó tức là, nội dung của bạn phải thực sự tuyệt vời để có thể duy trì mối quan tâm của vòng tròn thứ hai với thương hiệu. Ban đầu, vòng tròn thứ hai ngó qua nội dung của bạn chỉ bởi vì mối quan hệ giữa họ với vòng tròn thứ nhất. Nhưng một khi bạn đã khiến họ phải đọc kỹ nội dung ấy, bạn đã thành công trong việc duy trì sự tương tác giữa họ với thương hiệu.

-    Phần khó nhất nằm ở vòng tròn thứ ba. Theo Stratten, “…đây là nhóm mà bạn cần phải nghĩ đến trong quá trình xây dựng nội dung.” Nếu bạn đã tiếp cận nhóm thứ ba, thì bạn sẽ biết rằng họ  khôngcó mối liên hệ nào với thương hiệu của bạn từ trước đó. Nếu vòng tròn thứ ba chia sẻ nội dung của bạn, thì tức là những nội dung ấy chứa đựng các thông tin tuyệt vời mà họ cảm thấy nó xứng đáng được chia sẻ.

3 bí quyết để tiếp cận vòng tròn thứ ba.

“Chậm mà chắc”: Một nội dung mới được tung ra nhanh chóng trở thành“hit” lớn ( như Dollar Shave Club) cực kỳ hiếm. Bởi thông thường, một nội dung muốn được viral thì phải trải qua một quá trình khá chậm và liên tục. Chẳng hạn, để thu hút được hơn 100,000 lượt người đọc bài viết về “Coca- Cola Content 2020” trên blog của tôi (mà phần lớn được chia sẻ bởi vòng tròn thứ ba), tôi phải đợi đến khi hơn 500 bài viết khác được đăng.


Thu hút thêm người vào vòng tròn đầu tiên: Rất nhiều công ty lo lắng về số lượng follower của họ trên các mạng xã hội như Twitter và Facebook. Sự lo lắng này cũng đúng thôi, tuy nhiên, một lời khuyên dành cho bạn: nên khởi đầu tiếp cận với vòng tròn thứ ba bằng email. Tôi khá ngạc nhiên bởi số lượng blog và web không coi việc “xin địa chỉ email của khách hàng” là mục đích chính. Quan điểm của tôi là: Sự chia sẻ xã hội (social sharing) thực chất thường khởi đầu và kết thúc bằng email. Do đó, đầu tiên, hãy khiến họ đăng ký email, sau đó tiếp tục gửi những thông tin tốt nhất cho những khách hàng tiềm năng của bạn.

Hãy trở thành nhà cung cấp nội dung hàng đầu cho khách hàng trong phân khúc của bạn: Khi thuyết trình cho các marketer, tôi thường đặt ra một câu hỏi: “Những ai ở đây đặt mục tiêu trở thành nhà cung cấp nội dung hàng đầu cho người mua?”. Thật đáng buồn, hầu như không có cánh tay nào giơ lên – đó chính là một vấn đề lớn. Tại sao người tiêu dùng và khách hàng tiềm năng nên tương tác với nội dung của bạn? Bởi vì những thông tin ấy đã giải quyết những khó khăn của họ theo một cách nào đó. Có rất nhiều lựa chọn khiến khách hàng  bỏ qua nội dung của bạn. Vì vậy, bạn phải đảm bảo chắc chắn rằng nội dung của bạn là rất hấp dẫn và ảnh hưởng lớn đến khách hàng. Phần lớn các thương hiệu bây giờ đều cho rằng, việc sử dụng những nội dung tầm thường chủ yếu để tương tác với khách hàng là chấp nhận được.

Sự “chấp nhận được” ấy sẽ không bao giờ giúp bạn tiếp cận xa hơn vòng tròn đầu tiên. Vòng tròn thứ ba đòi hỏi việc trở thành số một trong thị trường ngách. Tuy nhiên, chí ít thì hãy thiết lập việc “tiếp cận vòng tròn thứ ba” như một mục tiêu của bạn, sau đó hãy thực hiện nó.

Theo Gik

Content Marketing : Số liệu thống kê




Trong khi content marketing ngày càng trở nên quan trọng và được xem như chiến lược chủ yếu thì phần lớn các công ty lại không có một kế hoạch cụ thể và lâu dài cho phương thức này:
  • 90% người trả lời cho rằng content marketing sẽ trở nên quan trọng trong vòng một năm tới.
  • Hai phần ba số in-house marketers nói rằng content marketing sẽ nằm trong chiến lược của họ.
  • Chỉ 34% số công ty nằm trong cuộc khảo sát có ngân sách đầu tư và 46% có nguồn nhân lực dành cho content marketing, mặc dù có tới 55% số in-house marketers và các agency nói họ có kế hoạch sẽ đầu tư cho nội dung này trong tương lai.

Content marketing và mạng xã hội có một mối quan hệ gắn bó:
  • 83% in-house marketers sử dụng những thông báo và cập nhật trên mạng xã hội nhiều hơn bất kì một phương tiện nào khác.
  • Tham gia các mạng xã hội là cách thức tốt nhất để thu hút khách hàng với 78% số người được hỏi nói rằng công ty họ sử dụng phương pháp này.
  • Thông báo và cập nhật trên mạng xã hội là phương tiện hữu ích thứ hai sau email của những in-house marketers và 46% trong số họ cho rằng đây là một 3 loại content cho hiệu quả tốt nhất

Tài nguyên, ngân sách và các chính sách của chính phủ là những trở ngại chính cho một chiến lược content marketing hiệu quả.
Mức độ ảnh hưởng của các trở ngại được đưa ra như sau:
  • Thiếu nguồn nhân lực (42%)
  • Thiếu ngân sách (35%)
  • Chính sách công ty (30%)
Các Agency lại cho rằng mức ảnh hưởng tới chiến lược của họ gồm có:
  • Thiếu hiểu biết và bồi dưỡng để trở thành trở ngại chính(46%)
  • Kĩ năng content marketing(39%)
  • Thiếu khả năng đo lường hiệu quả trên vốn đầu tư (ROI) (35%)

Theo Gik

Khác biệt hóa để tăng giá trị thương hiệu


Theo John Gerzema, giám đốc nghiên cứu cao cấp của tập đoàn Young & Rubicam (Y & R), cùng với Brand relevance (sự phù hợp thương hiệu), tiêu chí cơ bản để đánh giá sức mạnh thương hiệu là Energized differentiation (sự khác biệt động). Khái niệm “sự khác biệt động” (Hay còn gọi là thương hiệu có “Năng lượng”) phản ánh khả năng đạt được sự yêu thích và lòng trung thành từ phía người tiêu dùng trong dài hạn của thương hiệu.
Các tiêu chí để đo lường sự Khác biệt động của một thương hiệu:
Y & R đưa ra ba tiêu chí là Vision (Tầm nhìn), Invention (Sáng tạo) và Dynamism (Năng động).
Thương hiệu có “Tầm nhìn” thường có vị trí dẫn đầu và khả năng tiên đoán vượt trội. Những thương hiệu này có khả năng định hướng và thay đổi hành vi người tiêu dùng.
Thương hiệu “Sáng tạo” là thương hiệu có sức mạnh thay đổi được cách cảm nhận và hành xử của khách hàng về hình ảnh thương hiệu. Sự Sáng tạo của thương hiệu thể hiện qua bản sắc nhận diện thương hiệu và các trải nghiệm thương hiệu với người tiêu dùng.
Thông qua hoạt động truyền thông thương hiệu, “Năng động” là yếu tố cảm tính nhất và dễ được cảm nhận nhất đối với khách hàng. Do vậy, thương hiệu có sự Năng động sẽ dễ kết nối cảm xúc với khách hàng và có vai trò xây dựng hình ảnh thương hiệu rõ nét trên thị trường.
Chỉ số Khác biệt động liên quan đến Giá trị xếp hạng thương hiệu
Theo dữ liệu đánh giá Brand Asset Valuator của Y & R, Sức mạnh thương hiệu (bao gồm “Sự khác biệt động” và “Sự phù hợp”) được xếp theo điểm số từ 0 đến 100 (Điểm số cao thể hiện Sức mạnh thương hiệu cao). Có thể lấy một số ví dụ về kết quả đánh giá như sau:
Một số thương hiệu tiêu biểu có chỉ số Sức mạnh thương hiệu đạt điểm số 90-100: Coca-Cola, Apple, IBM, BMW, Toyota, Disney, Google. Đây đều là các thương hiệu nằm trong Top 15 thương hiệu có giá trị nhất thế giới năm 2012 (Báo cáo của Interbrand)
Nhóm thương hiệu có chỉ số Sức mạnh thương hiệu đạt điểm trung bình: Nokia, Siemens, Ericsson. Đây là các thương hiệu một thời lừng lẫy nhưng đang trong giai đoạn “trượt giá” về giá trị thương hiệu.
Dữ liệu của Y&R: Nokia có chỉ số Energized Differentiation (Khác biệt động) rất thấp
Thương hiệu Việt nào tạo dấu ấn với Khác biệt động?
Hiện các thương hiệu Việt chưa được đưa vào hệ thống xếp hạng giá trị và chưa đủ cơ sở để “lượng hóa” điểm “Khác biệt động”. Tuy nhiên, chúng ta có thể đánh giá tiềm năng của một số thương hiệu tiêu biểu khi xét đến các tiêu chí đánh giá liên quan như Tầm nhìn thương hiệu, Sáng tạo thương hiệu và Năng động thương hiệu.
Trung Nguyên là thương hiệu Việt có Tầm nhìn
Tầm nhìn thương hiệu của Trung Nguyên là muốn biến Buôn Mê Thuật thành thủ phủ cà phê thế giới với tham vọng  “Kết nối và phát triển những người yêu và đam mê trên khắp thế giới”. Slogan mới của họ ”Thống lĩnh nội địa, chinh phục thế giới” thay thế slogan cũ “Khơi nguồn sáng tạo” cũng để chuyển tải thông điệp này. Với thế mạnh của đất nước nông nghiệp xuất khẩu cà phê hạt lớn thứ hai thế giới, có thể nhìn nhận rằng tầm nhìn thương hiệu của Trung Nguyên có tiềm năng để hình thành và duy trì sự “Khác biệt động” về lâu dài.
VietJetAir có hình ảnh Năng động
Liên tưởng thương hiệu về VietJet Air trẻ trung và năng động được cụ thể hóa trên mọi điểm tiếp xúc với khách hàng – màu đỏ-vàng bắt mắt & trẻ trung hiển diện nổi bật trên dọc đường cao tốc đến sân bay,tại sân bay và trong các chuyến bay. Kể từ khi ra mắt, các hoạt động truyền thông thương hiệu của VietJet Air dường như đang tận dụng hiệu quả những nét tính Vui tươi – Giàu sức sáng tạo – Tràn đầy cảm hứng để nâng cao hình ảnh thương hiệu năng động. Nhiều hoạt động như tài trợ (VietJet Air là nhà tài trợ cho cuộc thi “Bước nhảy Hoàn vũ” và “Iron Chef” trên VTV3), khiêu vũ trong các chuyến bay, nhảy flashmob ….. được thực hiện với hình ảnh năng động & trẻ trung nhằm giúp VietJet Air khác biệt so với các hãng hàng không nội địa khác.
Ngày 21/09/2012, theo kết quả công bố tại Luân Đôn (Anh Quốc) trong khuôn khổ giải thưởng uy tín dành cho các hãng hàng không giá rẻ toàn cầu “Budgie$ & Travel Awards 2012” vừa qua, đường bay  TP.HCM và thủ đô Hà Nội của VietJetAir vừa được công nhận là một trong 5 “Đường bay mới khai trương thành công nhất thế giới” năm 2012.
Một thương hiệu có sức mạnh chi phối thị trường luôn là thương hiệu đạt được sự yêu thích và trung thành cao từ phía khách hàng nhờ điểm Khác biệt động của mình. Điều này là vô cùng quý giá đối với bất  kỳ thương hiệu nào không chỉ vì một hình ảnh thương được yêu thích (trong cảm nhận của khách hàng) mà còn góp phần tạo ra một thương hiệu “có giá” trên thị trường.
Nguyen Duc Son
Brand Strategy Director- Richard Moore Associates

Content Marketing: Từ truyền thông sản phẩm đến sản phẩm truyền thông


Tháng 12 năm 2006, Jonathan Mildenhall sau hơn 16 năm là việc trong ngành quảng cáo đã đến Atlanta làm việc cho Coca Cola với một chức danh rất “ngộ”: “VP, Global Advertising Strategy and Content Excel
Tháng 11 vừa rồi, Jonathan vừa giới thiệu chiến lược mới của Coca Cola: “from creative excellence to content excellence”. Jonathan nói rằng: “All advertisers need a lot more content so that they can keep the engagement with consumers fresh and relevant, because of the 24/7 connectivity. If you’re going to be successful around the world, you have to have fat and fertile ideas at the core.”
Vậy thì “content excellence” là gì mà một thương hiệu vĩ đại như Coca Cola lại muốn theo đuổi?
Hãy hình dung ngày hôm qua, bạn sản xuất ra một sản phẩm và bạn tạo ra một phim quảng cáo 30 giây cho nó. Theo lý thuyết tiếp thị, sản phẩm của bạn là Product, còn phim quảng cáo của bạn là Promotion nhằm để quảng bá cho Product của bạn. Cái khách hàng cần không phải là phim quảng cáo 30 giây của bạn, họ cần sản phẩm.
Tuy nhiên, trong bối cảnh ngày hôm nay, cái họ cần không hẳn chỉ là sản phẩm thật (actual product).
  • Nếu bạn sản xuất ra một loại nước tương mới nhằm tạo ra nhiều món ăn ngon và lạ, khách hàng cần bạn cung cấp cho họ những cẩm năng nấu ăn với loại nước tương này
  • Nếu bạn sản xuất xe hơi với định vị là an toàn, khách hàng cần bạn cung cấp thêm những kỹ thuật và cách thức lái xe an toàn cho cả gia đình.
  • Nếu bạn là một nhãn hàng sữa giúp phát triển trí não, khách hàng cần bạn cung cấp kiến thức khoa học về nuôi dạy con thông minh.
  • Nếu bạn sản xuất máy chụp ảnh chuyên nghiệp, khách hàng cần bạn tạo ra thêm nhiều nội dung nói về cách chụp ảnh chuyên nghiệp hay các buổi nói chuyện với chuyên gia nhiếp ảnh.
  • Và nếu bạn sản xuất nước ngọt như Coca Cola giúp mọi người chia sẽ hạnh phúc thì khách hàng cần bạn kể cho họ nghe những câu chuyện làm cho họ hạnh phúc.

Và những gì tôi vừa đề cập chính là “Content” và là một cách tiếp cận mới trong tiếp thị ngày nay: “Content Marketing”.
Đây là một định nghĩa mà tôi cho là khá đầy đủ:
“Content marketing is a marketing technique of creating and distributing relevant and valuable content to attract, acquire, and engage a clearly defined and understood target audience – with the objective of driving profitable customer action”
Content cũng chính là một “Sản phẩm” mà công ty tạo ra nhằm mang lại giá trị cho khách hàng, thu hút khách hàng, gìn giữ và phát triển mối quan hệ với khách hàng. Dù bạn kinh doanh ngành nghề gì đi nữa thì khách hàng luôn cần nhiều hơn bản thân sản phẩm của bạn. Và “content” là một phần mở rộng của sản phẩm. Bạn có thể gọi nó là một sản phẩm truyền thông hoặc là phần giá trị cộng thêm (Augmented level) của sản phẩm hữu hình của bạn (Actual level) trong lý thuyết  3 lớp sản phẩm của Kotler.
Bạn có thể tạo Content từ nhiều cách: Blog, Facebook fanpage, tạp chí tự phát hành (như cách các hãng xe hơi vẫn làm), chương trình truyền hình (sức sống mới của Unilever là một ví dụ), cộng đồng trên mạng, kênh truyền hình riêng (các câu lạc bộ bóng đá vẫn hay làm), newsletter, buổi hòa nhạc (như Coca Cola vừa tạo ra Soundfest)… Nói chung tất cả những phương tiện gì có thể giúp bạn “phát hành” nội dung của mình đến với khách hàng của bạn.
Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần là “phát hành” thôi thì chưa đủ gọi là “content marketing”. Nói đòi hỏi sự gắn kết tối đa với khách hàng của bạn. Nghĩa là bạn không chỉ tạo ra content, mà bạn còn khuyến khích khách hàng tạo ra content với bạn.
Tôi thích cách gọi “Liquid & Linked” của Coca Cola. Nghĩa là “content” của bạn đủ hay, hấp dẫn để nó có thể lan truyền, mọi người chia sẽ và nói về nó nhưng cũng vẫn đảm bảo nó gắn chặt với ý tưởng thương hiệu. Nghĩa là cả Actual và Augmented level đều cùng một Core level – giá trị mà sản phẩm mang lại.
Tôi thích 2 từ Jonathan đề cập: “Fresh & Relevant”. Nghĩa là “content” mà bạn tạo ra phải mới lạ và có liên quan đến khách hàng của bạn. Nếu không mới lạ hay nói cách khác là sao chép từ nơi khác, bạn không nên làm “content marketing”. Điều đó bắt buộc bạn phải tạo ra những nội dung mà chỉ có mình bạn có, không một trang web, tạp chí hay forum nào có được.
Và như vậy trong bối cảnh ngày hôm nay, vai trò của các công ty quảng cáo sáng tạo không chỉ đơn thuần tạo ra những đoạn quảng cáo nhằm truyền thông sản phẩm của khách hàng mà còn tạo nên những sản phẩm truyền thông, như là một phần giá trị gia tăng cho sản phẩm đó.
Nguồn: Gik.vn

Monday, November 5, 2012

Chiến lược thương hiệu: Lợi ích hay thuộc tính sản phẩm?




Ngày nay, chúng ta sống trong thế giới của những tính năng. Công nghệ mang đến hàng loạt các tính năng như ứng dụng, chương trình phụ trợ và nâng cấp. Bảng hiện thị trên xe hơi cũng “quá tải” với tính năng này và tính năng kia.
Mối quan hệ xã hội được sắp xếp thông qua các ứng dụng di động và việc mua sắm được thực hiện qua hàng loạt dịch vụ công nghệ chuyên sâu không ngừng đổi mới giúp người tiêu dùng so sánh, thanh toán và yêu cầu vận chuyển sản phẩm. Thế giới đang chìm trong cơn lốc tính năng.
Bằng tất cả các hình thức, trên thị trường ngày nay, các tính năng đem đến cho chúng ta một điểm gì đó so với thứ khác. Nhưng bản thân các tính năng không phải là thứ đem rao bán. Người làm thương hiệu như chúng ta biết rằng khi người tiêu dùng phải đưa ra lựa chọn, các tính năng sẽ bị gạt qua bên lề. Nhưng thật không hề dễ dàng để ghi nhớ điều này trên thị trường “của những tính năng” ngày nay.
Với những tính năng thống trị sự chú ý của công chúng cũng như sự đầu tư của nhà sản xuất ngày nay, đừng quên “xem lại” những nguyên tắc marketing căn bản – tiếp thị lợi ích sản phẩm. Để làm điều này, tôi nghĩ chúng ta nên xem cách minh họa mà tôi học được từ Kevin Clancy, người mới đây vừa nhận được giải thưởng Những bộ óc vĩ đại nhất trong đổi mới của Quỹ Nghiên cứu Quảng cáo vì những đóng góp của ông cho sự phát triển của ngành marketing và nghiên cứu marketing. (Đây là một ví dụ đi kèm, cùng với nhiều ví dụ khác, trong một cuốn sách mà ông là đồng tác giả năm 1991 có tên Cuộc cách mạng marketing: Một tuyên ngôn cơ bản để thống trị thị trường).
Kevin đã dạy tôi rằng có hai thứ mà những người làm thương hiệu có thể tập trung khi nói về thông điệp marketing hoặc một sản phẩm hoặc dịch vụ, và có hai cách để nói về mỗi thứ. Bạn có thể chú trọng đến thuộc tính (hoặc tính năng) hoặc lợi ích. Thuộc tính mô tả thứ đó là cái gì. Lợi ích mô tả điều mà thứ đó mang lại. Bạn có thể tiếp thị sản phẩm này là gì hoặc tại sao sản phẩm này có ý nghĩa hoặc cả hai điều đó. Cuối cùng, mặc dù người tiêu dùng ít quan tâm sản phẩm là gì thì hầu hết họ đều quan tâm tại sao một sản phẩm lại có ý nghĩa với họ.
Đối với cả thuộc tính và lợi ích, Kevin cho rằng bạn có thể nói về khía cạnh hữu hình hoặc vô hình của chúng. Các khía cạnh hữu hình là những yếu tố trực tiếp mà có thể được nhận diện cụ thể và tách biệt. Còn khía cạnh vô hình thì ít rõ ràng hơn, thường chỉ tồn tại như là những cảm nhận vô hình hoặc đức tin. Tuy nhiên, cả hai khía cạnh này đều có thể đo lường được. Những thứ vô hình không phải nằm ngoài phạm vi đo lường đơn giản bởi vì chúng ít cụ thể.
Cách minh hoạ cổ điển của Kevin về những thuộc tính và lợi ích hữu hình và vô hình này kết hợp với nhau quanh thông điệp truyền thông về giá. Rất nhiều ví dụ, một số tập trung hơn vào sản phẩm so với truyền thông, có thể được ghi nhớ nhưng giá cả sẽ hữu ích bởi nó ảnh hưởng tới nhiều khía cạnh của marketing thương hiệu.
Giá cả không chỉ đơn thuần là giá. Bạn có thể nói về giá như thể một thuộc tính hay lợi ích của sản phẩm. Thêm nữa, giá cả có thể được truyền thông bằng cả phương pháp hữu hình và vô hình. Khi tất cả được nói và làm, những người làm thương hiệu có ít nhất bốn cách để truyền thông giá cả tới người tiêu dùng, cũng như giá trị của việc tập trung vào lợi ích sẽ trở nên rõ ràng hơn rất nhiều khi nhìn vào bối cảnh này.
Bắt đầu với giá cả như một thuộc tính hữu hình. Khi đó nó sẽ “rẻ”. Một thuộc tính hữu hình thì sẽ rẻ, đây là một cách nghĩ điển hình về giá.
Giá cả là một lợi ích hữu hình thì “tiết kiệm tiền bạc”. Giờ đây, ta có thể thấy rõ sự khác biệt giữa một thuộc tính và một lợi ích, khi mà lợi ích có sức hấp dẫn hơn hẳn so với thuộc tính trong truyền thông marketing.
Nhưng giá cả cũng có thể được miêu tả như một thuộc tính vô hình. Điều này sẽ là “giá trị tốt”. Một số người có thể tranh luận rằng đây là lợi ích chứ không phải thuộc tính. Nhưng giá trị tốt không thể hiện lợi ích được nói đến ở đây. Câu hỏi đặt ra là tại sao giá trị tốt lại có ý nghĩa. Lợi ích tự bản thân nó có giá trị hiển nhiên. Giá trị tốt không đóng được nút thắt trên sức hấp dẫn cũng như tầm quan trọng của một thuộc tính như thế.
Giá cả như một lợi ích vô hình là “lựa chọn thông minh”. Tất nhiên, lợi ích này có thể không có ý nghĩa với nhiều người tiêu dùng, mà đó chính là lúc nghiên cứu phân khúc phải bắt đầu vào cuộc – phân khúc người tiêu dùng bằng sự phù hợp lợi ích và  sự ưu tiên. Nhưng nó là một lợi ích với giá trị rõ ràng đối với nhũng người tiêu dùng quan tâm đến nó.
Rõ ràng, còn có thể nói nhiều điều nữa về giá cả. Nhưng những ví dụ này giúp chúng ta hiểu rõ tại sao lợi ích lại có ý nghĩa. Vậy bạn sẽ nói gì về thương hiệu của mình – rẻ hay là lựa chọn thông minh? Ngay cả nếu khách hàng chỉ muốn phương án rẻ tiền nhất thì yếu tố chi phối họ cũng không phải là mức giá rẻ được đề cập ở đây, nhưng lợi ích của việc tiết kiệm tiền bạc, và nếu bạn có thể tìm ra những cách giúp họ tiết kiệm tiền, bạn có thể tránh việc mô tả thương hiệu của mình như một thương hiệu giá rẻ.
Lợi ích là thứ giúp khác biệt hoá thương hiệu này so với thương hiệu khác. Chẳng hạn, ô tô đều là ô tô. Điểm khác biệt duy nhất chỉ là những lợi ích mà chúng mang lại. Phải thừa nhận rằng những chiếc xe khác nhau có những tính năng khác nhau, nhưng những tính năng đó chỉ có ý nghĩa với người tiêu dùng nếu các hãng xe quảng bá một vài lợi ích khác biệt. Mặt khác, những tính năng đều tốt, nhưng không đủ tốt để tạo dấu ấn hoặc phân biệt loại xe này với loại xe khác.
Trong một bài viết nổi tiếng có tên “Tưởng tuợng marketing”, cố chuyên gia marketing của trường Harvard Ted Levitt đã trích dẫn lời Leo McGinneva về hiệu ứng này “khách hàng không muốn những mẩu nhỏ bằng 1/4 inch, họ muốn những cái hố sâu 1/4 inch.” Đây là một cách nói khác để thể hiện vai trò của lợi ích, một ý tưởng không chỉ vẫn đúng mà đúng hơn bao giờ hết trong thế giới của những tính năng ngày nay.
Nguồn: BrandingStrategyInsider

Bí quyết xây dựng thương hiệu của những doanh nghiệp uy tín nhất




Dưới đây là những chiến thuật mà những thương hiệu hàng đầu thế giới dùng để chiếm trọn trái tim người tiêu dùng. Để nắm được các bí quyết xây dựng thương hiệu, không gì thiết thực bằng tìm tòi, học hỏi từ chính những doanh nghiệp mà ai cũng biết và tin tưởng.
Nhóm phóng viên của tạp chí Entrepreneur đã cùng với Viện Nghiên cứu Giá trị, California, thực hiện một cuộc khảo sát trên 1.220 người tiêu dùng Mỹ để tìm hiểu tại sao một số thương hiệu lại nổi tiếng đến thế.
“Chúng tôi nhận thấy các công ty thường chú trọng xây dựng mối liên hệ cảm xúc với khách hàng” – nhà tư vấn xây dựng thương hiệu Jim Stengel, cựu giám đốc kinh doanh toàn cầu của tập đoàn Procter & Gamble cho biết: “Khi bạn làm được điều này, bạn sẽ tạo dựng được sự gắn kết, tạo đà tăng trưởng ổn định và kết quả kinh doanh khả quan”.
Các công ty được người tiêu dùng đánh giá cao cũng có thị phần lớn hơn, tốc độ tăng trưởng cao hơn so với những đối thủ chỉ chú trọng đẩy mạnh sản xuất. Dưới đây là những chiến thuật mà những thương hiệu hàng đầu thế giới dùng để chiếm trọn trái tim người tiêu dùng.
1. Amazon chú trọng cá nhân hóa
Nhà bán lẻ trực tuyến khổng lồ Amazon đứng đầu trong danh sách các thương hiệu được tin dùng nhất vì họ không chỉ có chỉ số tín nhiệm thương hiệu cao mà còn nhờ sự chú trọng gây dựng lòng tin ở từng khách hàng.
Brad VanAuken, chiến lược gia thương hiệu của công ty tư vấn The Blake Project cho rằng có 3 yếu tố tạo nên một thương hiệu Amazon: dễ dàng, thuận tiện và chu đáo.
“Với hàng triệu sản phẩm có thể đặt mua 24/7, công nghệ truy cập và tìm kiếm tối ưu, cho phép phản hồi từ khách hàng và đa dạng nguồn thông tin sản phẩm, Amazon.com đem đến cho khách hàng những trải nghiệm tuyệt vời nhất” – VanAuken nhận xét.
Theo VanAuken, Amazon còn có nhiều điểm ‘đáng yêu’ khác như mức giá thấp, chế độ giao hàng miễn phí cho những đơn hàng đạt mức tối thiểu, được phép đặt hàng chỉ với một cú kích chuột, dùng chuyển phát nhanh. Ngoài ra, khách hàng có thể tìm thấy trên Amazon bất kỳ loại sản phẩm nào đang có trên thị trường bởi Amazon rất biết bắt tay với những kênh bán hàng lớn khác như Partner Count.
Với mục tiêu cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng, giúp họ có những quyết định sáng suốt nhất, Amazon luôn đưa ra những gợi ý sản phẩm, liệt kê các phản hồi của người dùng và mức xếp hạng sản phẩm. Bản thân khách hàng cũng có thể vun đắp quan hệ với Amazon thông qua việc cung cấp thông tin cá nhân, đánh giá và cho điểm sản phẩm, đăng ký danh sách sản phẩm yêu thích, sản phẩm mơ ước…
2. Coca-Cola bán niềm vui
Nhà sản xuất nước giải khát Coca-Cola luôn hứa hẹn sẽ làm khách hàng sảng khoái, tươi vui. Những cái tên đầy ý nghĩa như Ice-cold Sunshine (ánh nắng mát lạnh), The Pause That Refreshes (Điểm dừng hứng khởi). Life Tastes Good (Cuộc sống ngọt ngào) là minh chứng cho điều này.
“Mọi thứ họ làm đều xoay quanh câu hỏi: làm thế nào chúng ta tạo dựng, nuôi dưỡng và gia tăng niềm vui?” – Stengel cho biết. Coca-Cola luôn nỗ lực để làm bằng được điều này trên mọi kênh giao tiếp với khách hàng, từ Facebook cho đến chiếc máy bán hàng tự động, cho phép khách hàng tạo ra đồ uống của tiêng mình bằng việc kết hợp nhiều hương vị với nhau. “Họ lấy ý tưởng từ sự ngẫu hứng, biến hóa và triển khai ý tưởng đó”.
Bên cạnh đó Stengel còn cho rằng Coca-Cola rất coi trọng sự trường tồn và tính di sản. “Họ luôn giữ sự tôn trọng cần có đối với quá khứ và với những bậc tiền bối. Họ không bao giờ quên mình bắt đầu từ đâu và nhờ ai” – Jim Stengel nhận xét. Đó cũng là lý do vì sao mà tất cả các khách hàng được hỏi đều không ngần ngại dành lời khen cho thương hiệu lâu đời này.
3. FedEx luôn giữ lời hứa
Với những đam mê không ngừng trong công việc, FedEx đã tạo được một bản sắc doanh nghiệp độc đáo. Chính vì thế, công ty này nhận được số điểm cao nhất cho năng lực, hiệu quả hoạt động và trên hết là khả năng biến những điều đã cam kết thành hiện thực.
Ngoài việc giao hàng đúng hạn, thương hiệu này còn gây dựng được niềm tin với khách hàng thông qua những chiến dịch như  “Chúng tôi hiểu”. “Họ coi công việc của mình không đơn thuần chỉ là vận chuyển đồ và bưu kiện mà là vận chuyển báu vật, sự sống và tương lai của mọi người. Nhờ đó, họ đã nâng tầm thương hiệu của mình trong con mắt người tiêu dùng”.
Để mang thông điệp này đi xa hơn, FedEx lôi kéo người tiêu dùng tham gia chương trình trao thưởng cá nhân của mình và tương tác với họ qua các kênh truyền thông xã hội.
“Sự tin tưởng là điều thiết yếu với doanh nghiệp nhưng nó chưa đủ để làm khách hàng yêu bạn. Vì thế, khi đã giành được sự tin tưởng, hãy ‘cá nhân hóa’ khách hàng trong suy nghĩ của bạn, đừng coi họ như những con số vô tri, vô giác’ – Blanchard chia sẻ.
4. Apple: lúc nào cũng ‘sành điệu’
Liệu có ai làm công chúng nín thở chờ đợi mỗi khi có sản phẩm mới ra đời như Apple? Vấn đề mấu chốt là dù sản phẩm của Apple có là gì thì người dùng luôn tin rằng nó sẽ cực kỳ thông minh và phong cách.
Ngoài việc dồn sức sáng tạo sản phẩm, Apple cũng không quên nuôi dưỡng quan hệ với khách hàng thông qua việc mở một loạt các cửa hàng bán lẻ với những nhân viên kinh doanh cực kỳ tâm lý và không vụ lợi (Apple không đánh giá năng lực của nhân viên kinh doanh qua doanh số bán). Stengel gọi các cửa hàng bán lẻ của Apple là “những cửa hàng bán lẻ tốt nhất từ trước đến nay. Nó là nơi truyền cảm hứng cho khách hàng, nuôi dưỡng niềm tin của họ với Apple và với chính bản thân họ”.
Apple sử dụng các cửa hàng bán lẻ để khách hàng tận mắt thấy được triết lý kinh doanh của mình vì thế các cửa hàng này bao giờ cũng có không gian mở với vô số các cửa sổ và đội ngũ nhân viên (được Apple gọi là cộng sự) được đào tạo bài bản”.
Một điểm đáng tiếc nho nhỏ, đó là Apple bị chấm điểm dưới trung bình cho sự gắn kết của khách hàng với bản thân công ty và sự trân trọng của công ty với khách hàng (không có thưởng cho khách hàng lâu năm hay khách hàng đóng góp nhiều cho hoạt động kinh doanh của công ty). Có lẽ những cảm nhận này xuất phát từ việc là do Apple quá tập trung vào chuyên môn.
5. Starbucks nuôi dưỡng các mối quan hệ
Sau một thời gian bị khủng hoảng cách đây vài năm, nhà bán lẻ cà phê dẫn đầu thế giới này đã vực dậy công việc kinh doanh và thương hiệu của mình khi quay lại với cam kết ban đầu là làm mọi người xích lại gần nhau hơn.
Từ Wi-fi miễn phí tới những bản nhạc mua bản quyền, những chiếc bàn lớn dùng cho khách hàng nhóm, thiết kế cửa hiệu ấm cúng, tất cả ở Starbucks đều hướng đến tạo không khí gần gũi, thân mật.
“Vào bất kì một cửa hàng Starbucks nào, bạn cũng sẽ thấy khách hàng ngồi tâm sự hay đàm đạo việc kinh doanh. Mọi thứ ở đó lúc nào cũng toát lên sự gắn kết, chia sẻ, truyền cảm hứng và sáng tạo.”
Cách tân là động lực thành công của Starbucks. “Họ làm thương hiệu của họ thật độc đáo, không một ai có thể bắt chước” – Stengel nhận xét.
Theo Stengel, Stabucks hiểu rất rõ các nguyên tắc kinh doanh và chiến lược của đối thủ và biến những cái đó thành lợi thế của mình. “Nếu bạn mới thâm nhập vào thị trường, bạn có thể không lập tức xây dựng một hướng đi mới được, nhưng bạn hoàn toàn có thể điều chỉnh hướng đi của của thị trường theo ý mình. Đó là cách bạn tìm đến với chiến thắng” – Stengel khẳng định. “Còn nếu bạn tham gia một ngành theo kiểu a dua ‘tôi cũng thế’, thì hãy xem xét lại”.
Nguồn: marketing.24h.com.vn