Wednesday, August 31, 2011

Nguồn động lực mạnh nhất trong kinh doanh?




Là một nhà quản lý, người lãnh đạo hay giám đốc điều hành, động lực của bạn trong kinh doanh là gì?
Hãy suy nghĩ về điều đó trong một giây. Cái gì đã kéo bạn ra khỏi giường vào buổi sáng và là động lực khiến bạn đi làm? Điều gì thực sự nằm sau những lựa chọn của bạn? Bạn đặt ra những mục tiêu và tham vọng của mình như thế nào?
Có rất nhiều phương án trả lời. Hỏi một ngàn người và bạn sẽ nhận được một ngàn câu trả lời khác nhau. Tiền có lẽ là câu trả lời được lựa chọn nhiều nhất. Cũng tương tự như vậy với quyền lực, tầm ảnh hưởng, thăng tiến, danh vọng, sự an toàn và thành công.
Nhưng tôi tin rằng có một nguồn động lực đã bị bỏ quên, bị đánh giá không đúng mức trong kinh doanh. Một động lực có thể đưa đẩy bạn đến những thành tựu xuất sắc, những quyết định khôn ngoan và những mối quan hệ vững chắc trong kinh doanh. Một nguồn động lực mạnh mẽ mà – nếu bạn khai thác và tận dụng được nó trong công việc – sẽ khiến bạn làm việc hiệu quả hơn và yêu thích công việc của mình hơn.
Một nguồn động lực mà tất cả các nhà lãnh đạo doanh nghiệp ở khắp mọi nơi cần phải biết về nó và áp dụng nó trong kinh doanh từ mức độ căn bản nhất.
Tò mò chưa?
Và nó ở đây: Động lực mạnh mẽ nhất trong kinh doanh chính là hạnh phúc! Vâng, hạnh phúc trong công việc.
Tôi biết rằng công việc thường được coi như một mảnh đất cằn cỗi – một kinh nghiệm không hề dễ chịu mà bạn phải chịu đựng để kiếm sống qua ngày.
Công việc thì khó khăn, chết tiệt và nó đúng là như thế! Còn nếu mọi người đang say sưa hứng khởi thì tức là nó đã không còn là công việc nữa rồi!
Nhưng đó lại là một nhận định sai lầm các bạn ạ. Tôi biết, và các nghiên cứu cũng chứng minh đã cho điều này, rằng những người làm công việc của mình tốt nhất khi họ yêu thích những gì họ làm. Nó không có nghĩa là chúng ta phải yêu tất tần tật những gì thuộc về công việc của chúng ta, nhưng khi chúng ta yêu công việc nhiều hơn là ghét, chúng ta sẽ làm việc hiệu quả và năng suất hơn rất nhiều.
Có ba cách mà bạn – với tư cách một nhà lãnh đạo có thể khai thác và sử dụng nguồn lực hạnh phúc này để chèo lái con tàu sự nghiệp của mình.
1: Làm cho nhân viên của bạn hạnh phúc
Các nghiên cứu đều cho thấy rằng những nhân viên yêu công việc của họ có ít ngày nghỉ ốm hơn, gắn bó với công việc lâu hơn, làm việc năng suất hơn, cung cấp dịch vụ khách hàng tốt hơn và có chất lượng công việc cao hơn. Thực tế cho thấy, nhân viên hạnh phúc luôn làm việc tốt hơn các nhân viên không thỏa mãn trong bất cứ lĩnh vực nào.
Nếu nhìn sâu hơn vào câu chuyện thành công tại hầu hết các doanh nghiệp, bạn sẽ thấy thực chất của vấn đề nằm ở một nhóm người luôn suy nghĩ “Chúa ơi, điều này thật tuyệt – Tôi không thể tin được làm việc với đội dự án này lại vui đến thế!”
Và đó là lý do tại sao tất cả những ông chủ, các nhà lãnh đạo cần phải tập trung vào nhân viên của mình trước tiên và phải đảm bảo rằng họ hạnh phúc trong công việc.
Nhưng khách hàng có phải là mối quan tâm hàng đầu không? Chắc chắn như vậy. Khi một công ty đặt nhân viên của mình lên hàng đầu, nhân viên sẽ đặt khách hàng lên hàng đầu, bởi những người hạnh phúc có thiên hướng chăm sóc khách hàng tốt nhất. Hãy nghĩ về điều đó: Bạn muốn được ai phục vụ khi bước vào nhà hàng: một anh bồi bàn cáu kỉnh căm ghét ông chủ của mình và đồng nghiệp hay một cô bồi bàn yêu thích công việc?
2: Làm cho khách hàng của bạn hạnh phúc
Mục tiêu của bạn là gì? Bán hàng được nhiều nhất có thể? Tối đa hóa doanh số và đạt mục tiêu ngân sách? Luôn gia tăng giá trị sản phẩm?
Hay là làm cho các khách hàng của mình hạnh phúc?
Lựa chọn thứ hai sẽ mang đến cho bạn những khách hàng trung thành nhất. Một khi khách hàng biết rằng bạn thực sự mang đến lợi ích tốt nhất và chân thành mong muốn những điều tốt lành cho họ, họ sẽ tiếp tục quay lại thêm nhiều lần nữa. Có thể hiện tại bạn chỉ làm ăn nhỏ, nhưng trong dài hạn có thể bạn sẽ làm ăn lớn hơn nhiều.
Doanh nghiệp nào chọn cách tiếp cận này cũng có được sự hài lòng khi biết rằng bản thân họ đang giúp đỡ mọi người.
3: Làm cho mình hạnh phúc trong công việc
Còn bạn thì sao? Bạn có yêu công việc của mình? Bạn có huýt sáao vui vẻ mỗi khi đến văn phòng hay khi tan sở về nhà? Bạn có đang làm những việc bạn thật sự yêu thích? Bạn có tin tưởng và quý mến những người quanh bạn?
Chính bạn, với tư cách một nhà lãnh đạo doanh nghiệp, cần phải hạnh phúc trong công việc với một lý do đơn giản: Nếu bạn ghét công việc của mình, bạn sẽ làm ảnh hưởng xấu đến tất cả những người xung quanh. Là một nhà lãnh đạo, bạn là người tạo ra không khí làm việc và mọi người sẽ chú ý bất cứ biểu hiện nào của bạn. Hãy trở thành một tấm gương và hãy làm cho mình hạnh phúc trong công việc.
Khi bạn làm được điều này, bạn cũng sẽ trở nên thành công hơn. Một nghiên cứu gần đây cho thấy: trong khi thành côngcũng sẽ làm cho con người hạnh phúc, thì mối tương quan này lại mạnh mẽ hơn theo chiều ngược lại, có nghĩa làrằng người hạnh phúc thường trở nên thành công và giàu có hơn. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả, vì người hạnh phúc hơn sẽ lạc quan hơn, sung sức hơn, duyên dáng hơn và sáng tạo hơn – đó cũng là tất cả những phẩm chất cần thiết trong kinh doanh
Lựa chọn thực sự
Và đây là điều mà một trong số những công ty thành công nhất với lợi nhuận cao nhất thế giới đã nhận ra: Rằng chúng ta không phải hi sinh mục tiêu kinh doanh và lợi nhuận để trở nên hạnh phúc. Sự thực là, biến hạnh phúc thành nguồn lực trong kinh doanh sẽ khiến chúng ta có nhiều lợi nhuận hơn nữa.
Bạn không cần phải chọn giữa hạnh phúc trong công việc và sự thành công – sự lựa chọn thực sự là:
Bạn có muốn việc kinh doanh của bạn trở nên hạnh phúc và thành công hơn không?
Hay bạn muốn không hạnh phúc và kém thành công hơn?
Thật là một lựa chọn khó khăn, nhỉ: o)
Câu hỏi hiển nhiên là: Tôi có thể làm được gì? Làm thế nào tôi có thể làm cho bản thân mình và những người khác hạnh phúc trong công việc?
Chúng ta sẽ quay lại vào ngày mai với một thử thách cho tất cả các nhà lãnh đạo – một phương pháp đơn giản để tạo ra các nguyên tắc cơ bản về hạnh phúc trong công việc cho chính bản thân bạn và nhân viên của bạn.
Bản tiếng Việt © 2011 Juju
Bản tiếng Việt © 2011 Phát triển Cá nhân

Nếu người đó là trẻ nhỏ hoặc người già


Hãy tưởng tượng những người trong cuộc đời của bạn là những trẻ sơ sinh bé nhỏ và là những cụ già trăm tuổi
Tôi học được kỹ thuật này cách đây gần hai mươi năm. Nó đã chứng tỏ cực kỳ thành công trong việc giải tỏa những cảm giác bực tức đối với những người khác.
Hãy nghĩ đến một người nào đó thật sự làm bạn bực tức, làm cho bạn giận dỗi. Bây giờ, nhắm mắt lại và cố tưởng tượng người này là một trẻ sơ sinh nhỏ bé. Nhìn khuôn mặt nhỏ nhắn và đôi mắt bé tí ngây thơ. Nhớ là các em bé không thể nào tránh được lầm lỗi và mỗi người chúng ta cũng đã một lần là trẻ sơ sinh nhỏ bé. Bây giờ, xoay kim đồng hồ cho tới một trăm năm. Xem chính người đó như là một cụ già sắp từ giã cõi đời. Nhìn đôi mắt tiều tụy và nụ cười yếu ớt của người ấy biểu lộ đôi chút khôn ngoan và nhìn nhận lỗi lầm mình đã gây ra. Nhớ là mỗi người trong chúng ta sẽ một trăm tuổi, còn sống hoặc dã chết, trước lúc quá nhiều thật niên trôi qua.
Bạn có thể giải trí với kỹ thuật này và thay đổi nó bằng nhiều cách. Nó gần như luôn luôn đem đến cho người sử dụng một cái nhìn sâu sắc cần thiết và lòng thương xót nào đó. Nếu mục đích của chúng ta là trở nên thanh tịnh và nhân từ hơn, chắc chắn chúng ta không muốn để trong lòng những ý nghĩ không tốt về những người khác.
Trích Bí Quyết Sống Yên Tâm – Richard Carlson, Ph.D.

Cái ác không phải là kẻ thù của bạn


Thất bại nghiêm trọng nhất của thuyết duy linh lộ rõ khi đối mặt với cái ác. Những người lý tưởng và có lòng nhân ái vốn không bao giờ chịu tổn thương đến người khác lại thấy mình bị lôi cuốn vào cơn lốc chiến tranh. Các tôn giáo rao giảng sự hiện hữu của vị Thượng Đế duy nhất lại tổ chức các chiến dịch tàn sát kẻ ngoại đạo. Các tôn giáo tình thương biến thành nhóm người căm ghét kẻ dị giáo và những kẻ báng bổ đe dọa đức tin của họ. Ngay trong trường hợp bạn nghĩ rằng mình nắm giữ chân lý tối hậu, thì cũng không bảo đảm rằng bạn sẽ thoát khỏi sự cám dỗ của cái ác. Đã xảy ra nhiều hành vi bạo lực nhân danh tôn giáo hơn bất kỳ lý do nào khác. Vì thế mà có câu cách ngôn khá cay đắng là: Thượng đế phán truyền chân lý, và quỷ Satan nói: “Để ta sắp đặt nó”.
Cũng có trường hợp thất bại tế nhị do thái dộ thụ động – đứng bàng quan để cho cái ác mặc sức tung hoành. Có lẽ tình hình này phản ảnh một niềm tin bí ẩn cho rằng cái ác rốt cục mạnh mẽ hơn cái thiện. Một trong các nhân vật duy linh nhất thế kỷ 20 khi được hỏi Anh quốc nên đối phó với mối đe dọa của chủ nghĩa Quốc Xã ra sao, ông ấy đáp:
Tôi muốn các bạn chiến đấu với chủ nghĩa Quốc Xã không bằng khí giới. Tôi muốn các bạn hạ khí giới xuống, bởi vì chúng không giúp ích cho việc cứu vãn các bạn hoặc nhân loại. Các bạn cứ mời Đức ông Hitler và Quí ngài Mussolini lấy đi những thứ họ muốn ở đất nước mà các bạn gọi là tài sản của mình. Hãy để cho họ mặc sức sở hữu hòn đảo xinh đẹp của các bạn, cùng với những dinh thự điền sản ở đó. Các bạn cứ biếu tặng tất cả những thứ này, nhưng đừng để mất linh hồn, cũng đừng để mất tâm trí của các bạn.
Tác giả đoạn văn này là Thánh Gandhi; và khỏi phải nói, bức “thư ngỏ” của ông gửi cho người dân Anh đã được chào đón bằng cơn chấn động đầy phẫn nộ. Tuy vậy, Gandhi thật chân tâm với nguyên tắc Bất Bạo Động của mình. Ông đã vận dụng thành công nguyên tắc bất bạo động nhằm thuyết phục người Anh trao trả quyền tự do cho Ấn Độ; vậy là bằng cách từ chối tham chiến chống lại Hitler – lập trường ông theo đuổi suốt cuộc Thế Chiến II – Gandhi đã theo đúng đức tin của mình. Liệu tinh thần Bất Bạo Động ấy có thực sự thuyết phục được Hitler, con người đã công khai tuyên bố rằng: “Chiến tranh là cha đẻ của mọi thứ” hay không? Chúng ta hẳn sẽ không bao giờ biết được. Có điều chắc chắn là bản thân thái độ thụ động có một khía cạnh đen tối. Giáo hội Kitô đã để lại một trong các dấu ấn ở kỷ nguyên tăm tối nhất của mình trong những năm mà giáo hội dửng dưng mặc cho hàng triệu người Do Thái bị tàn sát bởi chủ nghĩa Quốc Xã, để mặc cho người Do Thái ở nước Ý bị tập trung trong tầm nhìn của các khung cửa sổ Tòa Thánh Vatican.
Thế là chúng ta hãy thừa nhận rằng thái độ duy linh đã thất bại trong vô số dịp đương đầu với các ác. Từ bỏ  các lời giáo huấn vốn chỉ cho phép cái ác sinh sôi bành trướng, thực tại duy nhất mở ra con đường mới mẻ, bởi vì nếu chỉ có một thực tại duy nhất thôi, thì cái ác không có sức mạnh gì đáng kể và cũng không hiện hữu riêng biệt. Không có quỷ Satan kình địch với Thiên Chúa trên bình diện vũ trụ, và thậm chí cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác cũng chỉ là ảo tưởng sản sinh bởi não trạng nhị nguyên đối đãi mà thôi. Nói cho cùng, cả hai cái thiện và cái ác đều là các hình tướng mà ý thức có thể chọn lấy. Theo ý nghĩa đó, cái ác không khác biệt gì so với cái thiện. Chúng tương đồng bởi vì sau cùng chúng đều trở về một cội nguồn. Hai đứa trẻ sinh ra trong cùng một ngày, khi trưởng thành có lẽ một đứa theo cái ác còn đứa kia theo cái thiện; nhưng lúc sơ sinh thật lòng không thể nói rằng đứa theo cái ác sinh ra “tính bổn ác” được. Khả năng hành thiện và tác ác hiện hữu sẵn trong ý thức của chúng, rồi khi lớn lên ý thức của chúng sẽ được định hình bởi nhiều lực lượng khác nhau.
Các lực lượng này phức tạp đến mức việc gắn nhãn hiệu cho ai đó là tà ác hoàn toàn thật chẳng có ý nghĩa gì cả. Xin liệt kê ra dưới đây các lực lượng sẽ định hình mọi đứa trẻ sơ sinh:
  • Được cha mẹ giáo dưỡng hoặc không được giáo dưỡng.

  • Được yêu thương hoặc thiếu tình thương.

  • Hoàn cảnh gia đình.

  • Áp lực của bạn đồng học cùng trang lứa và của xã hội trong suốt cuộc sống.

  • Các thiên hướng và phản ứng của đứa trẻ.

  • Những niềm tin được gia đình nhồi sọ cùng các lời răn tôn giáo.

  • Nghiệp (Karma).

  • Trào lưu lịch sử.

  • Những mẫu người có vai trò đặc biệt trong xã hội.

  • Ý thực tập thể.

  • Sự lôi cuốn của huyền thoại, các vị anh hùng, và các lý tưởng sống.

Mọi lực lượng liệt kê trên đây đều tác động đến sự chọn lựa của bạn, rồi vô hình trung thúc đẩy bạn hành động. Bởi vì thực tại bị rối rắm bởi tất cả những luồn ảnh hưởng này, cái ác cũng rối tung rối mù như thế. Cái thiện và cái ác đều tiếp nhận tất cả những lực lượng này để xuất hiện. Nếu vị anh hùng bạn ngưỡng mộ thời thơ ấu của bạn là Jane d’Arc. Nếu bạn là người theo đạo Tin Lành, thì cuộc sống của bạn ở vùng ngoại ô các thành phố Hoa Kỳ ngày nay sẽ không giống như thời những người Pháp theo đạo Tin Lành bị khủng bố xưa kia. Hãy hình dung một con người giống như một tòa cao ốc có đến hàng trăm đường dây điện cung cấp vô số thông điệp cho nó, nhìn tòa nhà, bạn thấy nó là một khối vật chất, một vật duy nhất sừng sững ở đó. Thế nhưng, cuộc sống bên trong nó lại tùy thuộc hàng trăm tín hiệu chuyển tải đến.
Con người bạn cũng vậy.
Nguồn: Deepak Chopra, Những bì ẩn huyền diệu của sự sống

Chữ Khổ trong đạo Phật


Nhiều người khi đề cập đến Phật giáo thường gán cho hai chữ bi quan, yếm thế. Theo quan niệm của họ, Phật giáo chỉ dành riêng cho những người già cả, không thích hợp với tuổi trẻ là tuổi hăng say hoạt động: đạo Phật chỉ là một triết thuyết bi quan; những người theo đạo Phật là những kẻ chán đời, chỉ biết than vãn, tìm lãng quên sự thế qua câu kinh tiếng kệ; qua nhãn quan Phật giáo đâu đâu cũng thấy toàn cảnh khổ. Sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, mong muốn không được là khổ, trái ý nghịch lòng là khổ. Họ lý luận rằng, nếu đầu óc luôn luôn chứa đựng ý niệm khổ, thì con người sinh ra chán nản, tiêu cực và lười biếng…
Trước khi nhận định lại những thành kiến hẹp hòi và có tính cách phiến diện trên, chúng ta thử tìm hiểu xem thế nào là bi quan? Thế nào là lạc quan?
Chúng ta đưa ra một thí dụ cụ thể để hiểu rõ các danh từ có tính trừu tượng này.
Một bệnh nhân đang quằn quại, đau đớn trên giường bệnh. Thân nhân mời các vị thầy thuốc đến chữa trị.
- Vị thầy thuốc thứ nhất nhìn con bệnh rồi lắc đầu:
“Bệnh quá hiểm nghèo chắc không qua khỏi, chữa chạy cũng vô ích”.
- Vị thầy thuốc thứ hai nhìn con bệnh kết luận:
“Ồ không can gì, bệnh quá nhẹ, không cần thuốc vẫn khỏi”.
- Vị thầy thuốc thứ ba cầm lấy tay bệnh nhân chẩn mạch, tìm hiểu bệnh nhân đã lâm bệnh trong trường hợp nào, bệnh tình ra sao, nguyên nhân của căn bệnh và diễn tiến của bệnh trạng, rồi kê đơn cho thuốc.
- Vị thứ nhất quá bi quan, vị thứ hai quá lạc quan và vị thứ ba phán đoán theo thực trạng của bệnh nhân, không bi quan cũng không lạc quan.
Đức Phật là vị lương y, khi thấy căn bệnh khổ của chúng sanh, chỉ có một tâm nguyện duy nhất là tìm ra nguyên nhân và phương thuốc để điều trị căn bệnh ấy hầu giúp họ thoát khỏi những cơn đau đớn quằn quại của bệnh khổ. Đó không phải là thái độ bi quan, mà dám đối diện với sự thật để tìm cách cứu chữa.
Thật ra chữ khổ trong đạo Phật không chỉ có nghĩa là đớn đau rên siết. Khổ tuy được dịch từ thuật ngữ Pāli dukkha, chân lý đầu tiên trong Tứ Diệu Đế, nhưng ít khi được hiểu một cách đầy đủ chính xác. Vì dịch dukkha là khổ cho nên nhiều người cho rằng Phật giáo chủ trương đời chỉ là bể khổ. Lối phiên dịch và giải thích này rất sai lạc, đã gây ra ngộ nhận Phật giáo là bi quan yếm thế.
Thực ra, khổ chỉ là một trong nhiều nghĩa của dukkha, như bất toàn, hư dối, giả tạo, bất an, tạm bợ, trống rỗng, vô nghĩa, bất toại, không đáng tầm cầu, không nên bám víu, không nên tin cậy v.v. Rất khó tìm ra một chữ thích hợp để dịch trọn nghĩa từ dukkha. Khi nói đến dukkha Đức Phật không phủ nhận có hạnh phúc trong cuộc sống này. Ngài công nhận có nhiều loại hạnh phúc tinh thần và vật chất như hạnh phúc của thỏa mãn giác quan, hạnh phúc của đời sống gia đình thuận hoà hiếu thảo, hạnh phúc của sự thành đạt, hạnh phúc của lòng từ thiện vị tha v.v. và cao hơn nữa là hạnh phúc của đời sống độc cư thiền tịnh, hạnh phúc của sự thoát khỏi ràng buộc, hạnh phúc của đời sống nhẹ nhàng thanh thản, an nhiên tự tại v.v. Ngay cả những hạnh phúc trên cõi trời Dục giới, những cảnh thiền hữu sắc, vô sắc với tâm an lạc, thuần tịnh cũng không nằm ngoài dukkha. Bởi vì chúng đều là đối tượng của sự đổi thay, bất toàn, tạm bợ… không nên tầm cầu, không nên bám víu… Nghĩa là tất cả hạnh phúc nào thuộc về thế gian đều nằm trong dukkha. Như vậy, dukkha không chỉ có khổ mà còn bao hàm cả lạc và hỷ trong tam giới.
Đứng trước bệnh khổ ấy của nhân loại, chúng sinh, Đức Phật đã quán chiếu với trí tuệ để thấy ra nguyên nhân của bệnh khổ và tìm phương giúp chúng sinh thoát khỏi căn bệnh mãn tính đã đeo đẳng họ từ vô lượng kiếp. Đó chính là chân lý Tứ Diệu Đế mà Đức Phật đã giác ngộ dưới cội Bồ-đề trong đêm thành đạo.
Sau khi chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Giác, tức là thấu triệt chân tánh của vạn pháp, Ngài đã cùng hàng Thanh Văn đệ tử tích cực đem chân lý ấy giáo hóa cho đời, đem lại an lạc cho nhiều người. Tùy căn cơ trình độ của mỗi người, Ngài chỉ dạy những cách hành đạo riêng, nhưng chung quy vẫn đưa đến một mục tiêu duy nhất là thoát khỏi khổ đau. Ngài luôn chỉ cho mọi người thấy rằng: đây là khổ, đây là nhân sanh khổ, đây là sự diệt khổ và đây là con đường diệt khổ.
Chúng ta có thể nói tám muôn bốn ngàn pháp môn của Đức Phật chỉ nhằm mục tiêu “thoát khỏi vô minh ái dục, phiền não khổ đau”. Bệnh khổ của chúng sinh không sao kể xiết, nhưng cái khổ trọng đại nhất của chúng sinh là còn trầm luân trong vòng sanh tử.
Có thân tất phải có khổ. Nhưng thật ra cái khổ của thân không đáng kể, chính vì chấp rằng thân này của ta, hay nói một cách khác là ngã chấp, mới đem lại khổ đau thật sự. Nói đến ngã chấp chúng ta phải nói đến nguyên nhân sâu xa của nó là vô minh hay cụ thể là tà kiến. Khi tâm còn tối mê, không sáng suốt thì vẫn còn tạo nghiệp bất thiện, và phải tái sanh để chịu quả. Bậc Thánh nhân không sợ quả mà chỉ sợ nhân, diệt được gốc rễ của nhân phiền não, thì diệt được khổ. Diệt khổ là diệt ngay cái nhân khiến cho những bất thiện pháp dấy khởi. Khi bất thiện pháp không còn đủ sức khuấy động, khi đã diệt trừ được nguồn gốc sinh khổ, lúc ấy chắc chắn sẽ được thoát khỏi khổ đau.
Phương pháp diệt khổ của đạo Phật có rất nhiều nhưng tựu trung có thể tóm tắt vào ba điểm chính yếu sau đây:
- Ngăn ngừa những bất thiện pháp biểu hiện qua thân khẩu bên ngoài.
- Chế ngự những bất thiện pháp khởi động trong tâm.
- Diệt trừ phiền não ngủ ngầm sâu kín trong vô thức mà chính yếu là vô minh, vì vô minh là đầu mối mọi khổ đau của chúng sinh.
Muốn ngăn ngừa ác pháp không cho điều động thân khẩu chúng ta cần phải giữ giới. Muốn chế ngự những bất thiện pháp làm khuấy động tâm chúng ta cần tu tập thiền định. Muốn diệt tận phiền não ngủ ngầm nhất là vô minh chúng ta cần phải thực hành thiền tuệ vipassanā.
Tóm lại, khổ mà Đức Phật đề cập trong khổ đế là cái khổ do vô minh ái dục tạo ra, nên muốn hết khổ thì phải diệt tận vô minh ái dục. Phương pháp hữu hiệu nhất để diệt trừ vô minh ái dục là thực hành Bát Chánh Đạo. Như vậy, Đạo Phật không những đã tìm ra nguyên nhân căn bệnh của chúng sanh mà còn có cả một kho tàng linh phương, diệu dược để chữa trị bệnh khổ cho chúng sanh. Đó là thái độ sáng suốt, trầm tĩnh, tích cực, vị tha, dám đối diện với sự thật để giải quyết tận gốc, chứ không bi quan yếm thế hay giả vờ lạc quan để tự đánh lừa mình.
Nguồn: Viên Minh – Khánh Hỷ, Con đường Hạnh phúc
Theo Phattriencanhan.org

Thấy khổ bớt khổ


Sống ở đời, chúng ta ai cũng có những nỗi khổ niềm đau, dù ít hay nhiều. Bởi thân thể ta đau nhức là khổ, giận hờn là khổ, tiếc thương cũng khổ… Có rất nhiều yếu tố làm cho ta khổ, nhưng chung quy mọi khổ đau đều xuất phát từ chính mình.
Khổ là một sự thật hiển nhiên. Không ai có thể phủ nhận lẽ thật ấy. Bất cứ ở nơi nào trên thế giới này, cho dù ở đó ta có nhiều tiền bạc, bằng cấp, địa vị hay uy quyền thì vẫn bị phiền não, khổ đau chi phối. Bởi khi ta chưa nhận diện và chuyển hóa được những hạt giống giận hờn, tham lam, buồn tủi, lo lắng, sợ hãi, ghen tị, trách móc… ở trong mảnh đất tâm của mình, thì sẽ bị sợi dây phiền não trói buộc và sai sử.
Tuy nhiên, hạnh phúc hay sự vắng mặt khổ đau cũng là một sự thật. Nếu như ta thấy rõ ràng những diễn biến xảy ra ở thân tâm mình cùng hoàn cảnh hiện tại trong trạng thái sáng suốt, khách quan và trung thực, thì khổ đau sẽ không có cơ hội để biểu hiện.
Thực ra, khổ chỉ xuất phát khi tâm ta vướng mắc vào đối tượng, hay là có ý niệm muốn loại trừ đối tượng đó. Còn ngược lại, khi ta tiếp xúc với mọi hoàn cảnh, nhưng chỉ ghi nhận đơn thuần thôi, mà không khởi tâm muốn chiếm hữu hay là loại trừ, thì khổ đau sẽ không có cơ sở để sinh khởi.
Căn bệnh lớn nhất của chúng ta là muốn chiếm hữu những gì mà mình cho là tốt đẹp, và chạy trốn hoặc chống đối lại những gì mà mình không thích. Đây là nguyên nhân tạo ra phiền não, khổ đau. Bởi ta cố mong cầu để được một cái gì đó, thì rơi vào tâm tham. Khi mình ao ước và mong muốn được cái đó, nhưng giấc mơ ấy không thành tựu, thì khổ đau sẽ có mặt. Còn khi ta cố gắng để loại trừ những gì đang có mặt trong hiện tại, mà mình cảm thấy khó chịu, thì đó chính là tâm sân.
Và nếu, ta muốn loại trừ chúng nhưng không được, thì cũng khổ (oán tắng hội khổ). Như vậy, trong cuộc sống hàng ngày, khi nào ta rơi vào hai trạng huống này thì sẽ bị trở ngại và bất an.
Thế nên, sở dĩ ta bị khổ đau giam hãm, trói buộc là do không thấy rõ được sự sinh khởi của nó. Thực ra, khi trong tâm mình khởi lên một ý niệm buồn chán, thì ta chỉ cần thấy rõ và gọi đúng tên nó thôi là đủ.
Chào bạn Buồn, dạo này bạn có khỏe không? Mời bạn ngồi xuống uống trà với tôi. Hoặc khi trong tâm khởi lên ý niệm giận hờn ai đó, thì mình cũng thấy rõ và gọi đúng tên nó. Chào bạn Giận, bạn tới tìm tôi đó hả? Nếu mình tiếp đón lịch sự với khổ rồi, thì không có gì phải lo ngại cả.
Khi ta sống hòa bình, thân thiết và đối xử tốt đẹp với khổ, thì có gì xa lạ nữa đâu mà sợ hãi hay chạy trốn. Giống như trong thời chiến tranh, người lính đêm ngày leo đồi, lội suối, băng rừng gian nan vất vả. Ăn cơm nguội, uống nước sông, ngủ giữa rừng cây, chịu mưa gió lạnh buốt và họ không biết là mình sẽ chết lúc nào vì đạn bom loạn lạc.
Sau khi hết chiến tranh, người lính ấy được trở về sống yên bình với làng quê, thì cho dù đời sống kinh tế của họ gặp khó khăn bao nhiêu chăng nữa, cũng không ăn nhằm gì so với lúc còn ở ngoài chiến trường, bởi người ấy đã từng sống chung với khổ và học được rất nhiều kinh nghiệm từ đau khổ. Do vậy, nhiều khi khổ không hẳn là thứ xấu xa cần phải loại trừ, mà nó là bậc thầy chỉ dạy cho mình thấy ra được giá trị của hạnh phúc. Cũng giống như bông hoa sen kia, sở dĩ nó được thơm ngát tươi đẹp như thế, là nhờ từ trong bùn lầy tanh hôi mà có.
Chúng ta thấy rằng, tất cả những vui buồn, thương nhớ, giận hờn, thông minh, đạo đức…là của mọi người, không dành riêng hay ưu tiên cho bất cứ một ai. Thế thì, tại sao khi người ta giận, mình lại không đồng ý? Mình muốn người kia chỉ đối xử tốt đẹp, dễ thương với mình thôi, thì đâu có được. Bởi nhiều khi mình cũng sử dụng giận hờn, khó chịu để tiếp xử với họ cơ mà! Thực ra, trong tâm mỗi con người có đầy đủ, những ý niệm tiêu cực và tích cực. Nhưng, với người có tâm hồn bình thản và sáng suốt thì biết vận dụng được cái hay, cái đẹp để tiếp xử với nhau. Còn, người sống trong mê mờ quên lãng, thì tùy thuộc vào hoàn cảnh mà có vui hay buồn.
Cho nên, khi nào tâm ta bình thản và thấy rõ được khuôn mặt của khổ, thì lúc đó ta bớt hoặc hết khổ. Còn ngược lại, ta sống trong ảo tưởng, mê mờ, thì khi ấy khổ đau sẽ trói buộc. Do vậy, ta phải thường trực nhận diện những gì đang xảy ra trong thân tâm mình và hoàn cảnh hiện tại một cách rõ ràng, khách quan và trung thực với chính nó. Ta đừng khởi tâm áp đặt và bóp méo hiện thực ấy theo quan điểm của mình, mà chỉ lặng lẽ quan sát sự sinh diệt, thay đổi của các pháp thôi, thì sự bình yên và hạnh phúc chân thực sẽ được biểu hiện.
Viên Ngộ
Nguồn: tuanvietnam.vn

Tuesday, August 30, 2011

Giữ chánh niệm lúc đi đường


Có thể định nghĩa tắc đường hay kẹt xe là tình trạng xe cộ không thể lưu thông được vì hệ thống giao thông bị quá tải hoặc những nguyên nhân bất khả kháng khác. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cho rằng tắc đường là căn bệnh trầm kha của các đô thị hiện đại.

Đây cũng là hiện tượng phổ biến trên các thành phố lớn ở ViệtNam, đặc biệt là ở thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Theo một số tính toán của các nhà nghiên cứu, với dân số hàng chục triệu, hai thành phố lớn này hàng năm thiệt hại khoảng 2,4 tỷ USD vì vấn đề tắc đường. Nhưng đó chỉ là thiệt hại về mặt kinh tế mà người ta có thể lượng hóa được, còn những tác động tiêu cực về mặt tinh thần do tắc đường gây ra thì khó ai có thể tính toán hết.

Sáng sớm đi làm, nếu bị kẹt xe trong vài chục phút, chắc chắn người ta khó mà đến sở làm với tâm trạng thoải mái và sáng suốt được. Sau một ngày làm việc căng thẳng và mệt mỏi, lúc về lại phải chịu cảnh tắc đường thì thật không có gì khó chịu bằng. Chính vì vậy, nhiều người khi nhắc đến chuyện kẹt xe đều lắc đầu lè lưỡi hoặc thở dài chán ngán. Tuy nhiên, rõ ràng tình trạng này không thể ngày một ngày hai chấm dứt; và khi đã lỡ có mặt trên một đoạn đường bị kẹt xe thì ta cũng chẳng có cách nào thoát ra được mà đành chịu trận. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta làm thế nào?

Là một người tìm hiểu và thực hành Phật giáo, tiến sỹ tâm lý Jonathan S. Kaplan đã nêu ra một vài ý tưởng liên quan tới việc thực tập sống trong chánh niệm trên đường phố với thiện ý giúp mọi người có thể có thái độ vui vẻ và thanh thản trong lúc có mặt trên đường phố, dù có bị kẹt xe hay không.
1. Hãy buông bỏ mọi cố gắng nhanh chóng đi tới bất cứ một nơi nào. Có hai yếu tố tâm lý rất căng thẳng lập tức xuất hiện khi một người có mặt trên một đoạn đường bị kẹt xe: thứ nhất, tình trạng ta đang lâm vào ở ngoài tầm kiểm soát của ta vì ta không thể làm cho những chiếc xe khác biến mất được; thứ hai, tình trạng này không thể dự đoán được, vì ta không thể biết lúc nào thì sự giao thông lại trôi chảy như bình thường. Thế thì, thay vì ngập chìm trong lo lắng về việc bị trễ hẹn hay lầm bầm nguyền rủa hoiàn cảnh, hãy chấp nhận rằng ta sẽ dành ra một chút thời gian trong xe. Bạn không thể thay đổi tình trạng kẹt xe, nhưng bạn có thể thay đổi được thái độ của mình!
2. Hãy lên kế hoạch sử dụng thời gian đi lại một cách hợp lý. Ta biết rằng thông thường ta sẽ bỏ ra một khoảng thời gian nhất định để đi lại, vậy tại sao ta không sử dụng nó một cách có mục đích? Thay vì để cho mình bị mất tập trung với những điều vô nghĩa, bạn hãy quyết định trước những gì bạn sẽ làm gì trong thời gian đó. Có thể bạn nên tải xuống và nghe một số bài nói chuyện trên các phương tiện truyền thông về việc sống trong chánh niệm hay nghe lại một bài giảng trong giáo trình của mình. Nếu bạn có mặt trên phương tiện giao thông công cộng, bạn có thể chuẩn bị để đọc một tác phẩm văn học hoặc xem một bộ phim trên máy điện thoại di động.
3. Nếu có mặt trên phương tiện giao thông công cộng, hãy quan sát và ghi nhận những cảm giác đang diễn ra trong cơ thể. Chẳng hạn, nếu đang đứng trên xe buýt, bạn có thể nhận thấy các cơ bắp ở chân đang căng cứng như thế nào; bạn hãy tìm cách tạo sự thư giãn để có thể giữ thăng bằng lâu dài. Điều này rất hữu ích vì nó cung cấp cho những suy nghĩ của chúng ta một điểm dừng; thay vì cứ nghiền ngẫm các chủ đề căng thẳng, gây thêm lo lắng khi ta nghĩ ngợi vẩn vơ.
4. Tỉnh táo nhận biết bất cứ điều gì đang xuất hiện trên đường đi của bạn. Nhận biết màu sắc của những chiếc xe ở chung quanh hay những khuôn mặt của mọi người; nhận diện những suy nghĩ và phản ứng cảm xúc của ta khi chúng phát sinh. Bạn có thể trau dồi khả năng này chỉ bằng cách quan sát và chú ý tới những suy nghĩ, cảm xúc, và kinh nghiệm giác quan, mà không để chúng bị nhiễu loạn bởi bất kỳ sự phán xét hay chỉ trích nào. Nhận biết những gì đang diễn ra trong tâm bạn trước tình huống hiện tại; thăm dò cách bạn phản ứng về mặt tình cảm và thể chất khi bạn cứ nghĩ về nó. Bạn có thể sử dụng chiến lược này khi giao thông đang bị đình trệ trong giây lát.
5. Cư xử với những người xung quanh bằng thái độ thân thiện. Đúng vậy, ngay cả khi họ đang cố gắng vượt lên trước xe của bạn. Nếu bạn đang lái xe, bạn có thể nhường cho xe khác vượt lên. Nếu bạn đang ở trên phương tiện giao thông công cộng, bạn có thể nhường chỗ ngồi cho người khác. Điều này cũng hữu ích bởi một vài lý do. Trước tiên, ta không còn cảm thấy chỉ có riêng mình bị ảnh hưởng. Việc kẹt đường tác động đến tất cả mọi người, chứ không chỉ mình bạn. Khi nhìn nhận rằng tất cả mọi người đều đang cùng trải qua một điều gì đó tệ hại, người ta có thể đến gần với nhau hơn để đối phó với tình trạng đó một cách tích cực. Nếu ta nghĩ, “thằng cha đó cản đường mình” ta sẽ cảm thấy giận dữ. Nhưng nếu ta nghĩ, “chuyện này thực sự làm ai cũng mệt mỏi” ta sẽ thông cảm với những người cùng chịu cảnh kẹt xe như mình. Thứ hai, ta sẽ cảm thấy dễ chịu hơn khi ta có hành vi tử tế, bất kể người khác hành xử thế nào. Nếu thật sự trung thực với chính mình, ta sẽ thấy chẳng hay ho gì khi lúc nào cũng giận dữ hay phiền muộn. Người ta có thể bào chữa cho những phản ứng tiêu cực của họ, nhưng cuối cùng, điều đó chỉ hủy hoại sức khỏe thế chất và tình cảm của chính mình
6. Hãy hít thở trước khi bấm còi! Trong khi lái xe, hầu như người ta thường bấm còi lúc nổi giận chứ không chỉ đơn giản là một thông điệp “Này, cho tôi vượt mặt bạn nhé!”  Vậy nên, khi bạn thấy mình chuẩn bị bấm còi để lưu ý một ai đó, hãy dành ra một vài phút để hít thở thật sâu rồi ghi nhận sự căng thẳng và giận dữ mà bạn đang dồn nén trong cơ thể. Về mặt lý trí, bạn biết rằng việc bấm còi sẽ không làm cho bạn cảm thấy dễ chịu hơn chút nào; chẳng những thế, thật ra nó còn có thể làm phiền những tài xế khác. Vì vậy, thay vì “xả” cơn giận ra hay “nén” nó lại, bạn hãy quan sát sự thể hiện của nó trong cơ thể mình. Điều này có thể rất khó khăn, nhưng rất bõ công thực tập.
7. Chỉ tập trung vào việc lái xe hoặc đi xe mà thôi. Khi còn là một thiếu niên, có thể người ta lái xe chỉ để lái xe, để cảm thấy sự bùng nổ của tốc độ khi nhấn ga, để dự đoán sự biến động trên làn đường, để ngả xe khi vào các khúc cua v.v. Nhưng nay, hãy cố gắng chú tâm vào việc lái xe. Đôi khi, những điều khiến ta xao lãng trong lúc lái xe lại rất mơ hồ. Không có gì đáng ngạc nhiên khi các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nói chuyện điện thoại hoặc nhắn tin trong khi lái xe làm tăng nguy cơ tai nạn. Trong lúc lái xe, ta chỉ có thể lắng nghe điều gì đó một cách thụ động, như khi nghe tin qua đài phát thanh hay nghe một bài nói chuyện nào đó chẳng hạn. Ngược lại, những hành động đòi hỏi phản ứng sẽ khiến ta mất sự chú ý cần thiết cho việc lái xe. Nếu ta đang có mặt trên phương tiện giao thông công cộng, việc tập thiền một chút cũng là điều hay.
Tham khảo: Honk if you love mindfulness! Ten tips for mindful commuting by Jonathan S. Kaplan, Ph.D.
http://phattriencanhan.org/

Wednesday, August 24, 2011

Vũ trụ “vô thủy vô chung”



Lý thuyết vũ trụ mới này cho rằng từng có một vũ trụ trước vụ nổ lớn và sẽ lại có một vũ trụ khác sinh ra sau khi cái hiện tại kết thúc. Nói cách khác vũ trụ là bất tận về mặt thời gian.
Roger Penrose và Vahe Gurzadyan tìm cách chứng minh về một vũ trụ tự hủy diệt và tái sinh theo chu kỳ, bằng cách quan sát bức xạ nền vi sóng vũ trụ.
Vũ trụ ’vô thủy vô chung’ - Tin180.com (Ảnh 1)
Trong khi Stephen Hawking cho ra đời “Đại thiết kế”, The Grand Design, với lý thuyết M rằng vũ trụ của ta không phải duy nhất, rằng có những vũ trụ tồn tại song song. Một nhà vật lý học người Anh nổi tiếng khác cũng làm giật mình với thuyết vũ trụ tái sinh.
Penrose, được phong tước hiệp sĩ vào năm 1994 nhờ những đóng góp cho khoa học, hồi tháng 9 đã xuất bản cuốn sách Chu kỳ của thời gian (The Cycles of time), trong đó ông giả thiết từng có một vũ trụ trước vụ nổ lớn và sẽ lại có một vũ trụ khác sinh ra sau khi cái hiện tại kết thúc. Nói cách khác vũ trụ là bất tận về mặt thời gian.
Trong một nghiên cứu mới nhất vẫn chưa được in nhưng đã công bố trên websiteArxiv, Penrose và đồng nghiệp người Armenia cho rằng họ tìm thấy những vết tích của vũ trụ cổ đại trong bức xạ nền, lặp đi lặp lại theo tính cách chu kỳ. Đó là những “vành đai” bao quanh các cụm ngân hà, với các biến số thấp bất thường trong bức xạ nền.
Penrose và cộng sự đã nghiên cứu 11.000 địa điểm, tập trung vào những di chỉ của quá khứ, nơi các ngân hà cổ từng va chạm vào nhau, các lỗ đen khổng lồ từng sát nhập, để sau cùng chốt lại 12 ứng cử viên.
Sở dĩ họ chỉ đăng trên website mà chưa in là chờ phản ứng của các đồng nghiệp. Và quả thật ngay sau đó vào đầu tháng 12 đã có ba phân tích phản bác: một từ Viện Vật lý vũ trụ Canada, Toronto, một từ Trường đại học British Columbia, Vancouver và một từ Trường đại học Oslo, Na Uy. Họ đều cho rằng cái mà Penrose tìm ra chỉ là (tái) minh chứng bức xạ nền có một cấu trúc nhất định.
Sở dĩ đề xuất của Penrose gây phản ứng như vậy là vì nó mâu thuẫn với thuyết giãn nở vũ trụ. Thuyết này cho rằng vũ trụ bắt đầu từ một điểm duy nhất và giãn nở mãi mãi.
Penrose tiếp tục tung luận cứ lên mạng, rằng các vòng tròn của ông có một đặc tính là tập trung một chỗ chứ không phải nằm rải rác tùy tiện. Thuyết giãn nở không thể giải thích được điều này.
Penrose không có tôn giáo và tự cho mình là vô thần, nhưng trong bộ phim về Hawking Lược sử thời gian, ông từng phát biểu: “Tôi cho rằng vũ trụ có một mục đích, nó không hiện hữu một cách tình cờ… nhiều người cho rằng vũ trụ hiện hữu cho có và con người bỗng dưng xuất hiện giữa hỗn mang. Không có ích lợi khi bạn nghĩ về vũ trụ theo cách như vậy, phải có một cái gì đó sâu sắc hơn về nó”.
Từng chia đôi một giải thưởng uy tín với Hawking vào năm 1988, giải vật lý của Hiệp hội Wolf, lần này Penrose lại chia đôi “búa rìu dư luận”. Nhưng không phải ông không có đồng minh.
Shaun Cole thuộc nhóm vi tính vũ trụ của Trường đại học Durham cho rằng nghiên cứu này thật ấn tượng. Ông nói với BBC: “Đó là một lý thuyết cách mạng và xem ra có căn cứ hẳn hoi. Trong mô hình vụ nổ lớn chuẩn chẳng có gì luân hồi cả; chỉ có bắt đầu, không có kết thúc. Câu hỏi triết học đặt ra là cái gì có trước vụ nổ lớn và họ đã loại bỏ câu hỏi đó bằng cách trả lời “chả có khỉ khô gì cả”, vì họ đã cho nó cứ lặp đi lặp lại mãi”.
Cả Penrose lẫn Cole đều cho rằng ý tưởng cần được kiểm chứng bằng những phân tích sâu hơn nữa, và đặc biệt mong chờ các dữ liệu từ kính viễn vọng Planck, được thiết kế để nghiên cứu bức xạ nền vi sóng với độ chính xác chưa từng có.
Hãy chờ xem thuyết vũ trụ “vô thủy vô chung” của Penrose sẽ thay thế Big bang hay không.