| 11/01/2012 | |
Khi bạn bắt đầu hoạch định mục tiêu dài hạn của mình, một trong những bài tập giá trị nhất mà bạn có thể thực hiện là “Tư duy điểm gốc Zero”. Trong hình thức tư duy này, có một câu hỏi mà bạn sẽ phải đặt cho mình là: Có điều gì mình đang làm hôm nay mà vẫn còn giá trị nếu một mai mình phải làm lại tất cả từ đầu? Và nếu không muốn tiếp tục tham gia vào một việc gì đó trong đời, thì câu hỏi mà bạn cần nghĩ là: Tôi có thể dừng lại bằng cách nào và nhanh đến mức nào? Đánh giá từng lĩnh vực cuộc sống Hãy áp dụng Tư duy điểm gốc Zero với những người có quan hệ đến công việc và cuộc sống của bạn. Liệu có bất kỳ mối quan hệ nào đang có mà bạn biết mình sẽ không dính dáng đến một lần nào nữa không? Liệu có bất cứ ai bạn đang cùng làm việc mà bạn sẽ không muốn liên hệ nữa không? Hãy trung thực với chính mình khi trả lời những câu hỏi này. Hãy xem xét cẩn thận mọi khía cạnh trong cuộc sống và sự nghiệp của bạn. Có công việc nào mà bạn đã từng tham gia mà bạn sẽ không thực hiện nữa không? Có khía cạnh cuộc sống nào mà bạn muốn từ bỏ không? Bước tiếp theo là hãy xem xét đến những khoản đầu tư của bạn. Có khoản đầu tư nào về thời gian, tiền bạc hay cảm xúc mà bạn biết mình sẽ không lặp lại nữa. Nếu câu trả lời là có, thì làm sao để bạn thoát ra khỏi chúng và với tiến độ như thế nào? Sẵn sàng thay đổi khi cần thiết. Tôi có một người bạn thân từ hồi trung học và lên đại học anh ấy rất thích chơi golf. Tốt nghiệp đại học anh ấy vẫn dành thời gian chơi golf vài lần trong tuần. Anh ấy sắp xếp toàn bộ cuộc sống của mình cho thú chơi golf, ngay cả trong mùa đông anh ấy cũng bay về những sân golf phía Nam ấp ám hơn để chơi golf vì ở đó sân golf không bị đóng tuyết. Khi áp lực lớn quá mức chịu đựng, anh ấy bắt đầu ngồi lại và sử dụng phương pháp Tư duy điểm gốc Zero đối với những hoạt động của mình. Anh bắt đầu nhận ra rằng, trong tình hình hiện tại, việc chơi golf cần được cắt giảm nếu anh muốn đạt được những mục tiêu quan trọng trong cuộc sống. Với sự thay đổi này, anh đã dần dần cân bằng được cuộc sống của mình chỉ trong vài tuần. Với bạn thì sao? Những hoạt động nào ngốn nhiều thời gian mà bạn cần phải cắt giảm hoặc loại bỏ? Không ngừng điều chỉnh Theo thời gian, gần 70% quyết định mà bạn chọn sẽ trở nên không còn thích hợp vào một thời điểm nào đó. Lúc bạn bắt đầu ra quyết định hay cam kết, đó có thể là một ý tưởng hay. Nhưng khi thời gian trôi qua, hoàn cảnh chắc chắn sẽ thay đổi và lúc này cần phải dùng Tư duy điểm gốc Zero để xác định lại. Bạn có thể biết ngay liệu mình có rơi vào một tình huống cần phải điều chỉnh hay không dựa trên áp lực mà nó gây ra. Nếu bạn luôn cảm thấy căng thẳng, bực mình, cáu kỉnh và giận dữ liên tục, nghĩa là quyết định trước đây của bạn cần phải được xem xét lại. Đa số chúng ta thường dành rất nhiều thời gian để cố làm cho một mối quan hệ trong công việc hay quan hệ cá nhân trở nên tốt đẹp hơn, nhưng nếu Tư duy theo điểm gốc Zero thì giải pháp đúng đắn có thể là cần phải thoát khỏi mối quan hệ này hoàn toàn. Câu hỏi duy nhất cần phải đặt ra là liệu bạn có đủ can đảm để thừa nhận những sai lầm của mình và tiến hành những bước cần thiết để điều chỉnh tình huống đó không? Brian Tracy – trích trong Chinh phục mục tiêu |
PolycoGroup.com Hợp đồng thi công xây dựng nhà ở là một trong những loại hợp đồng hết sức .... ( Người dân tự xây dựng nhà có phải đóng thuế xây dựng hay không?
Friday, January 13, 2012
Tư duy điểm gốc Zero
Brian Tracy – bậc thầy về tư duy thành công xuất phát từ tay trắng
| 10/01/2012 | |
“Những người đến được với thành công thường là những người chủ động đặt mục tiêu và lên kế hoạch rõ ràng cho cuộc đời mình.” Brian Tracy Chưa tốt nghiệp phổ thông đã nghỉ học và vào đời với các công việc chân tay. 18 tuổi, Brian Tracy đã quyết tâm sẽ đi vòng quanh thế giới và 21 tuổi thì bắt đầu hành trình vượt Đại Tây Dương đi khắp thế giới, vừa chu du vừa kiếm sống... Nhân dịp Brian Tracy đến Việt Nam (15/12/2011), báo Doanh nhân Sài gòn đã thực hiện cuộc phỏng vấn với chuyên gia hàng đầu thế giới về tư duy thành công: Brian Tracy là một cái tên gắn liền với việc phát triển tiềm năng con người, gắn với các thương hiệu nổi tiếng như IBM, FedEx, Hewlet-Packard, Wal-Mart, Ford cùng nhiều công ty hàng đầu thế giới khác, đạt được mục tiêu cá nhân và mục tiêu doanh nghiệp nhanh hơn và dễ dàng hơn họ từng nghĩ. Dõi theo từng bước thăng tiến lên vị trí lãnh đạo các tổ chức của vị diễn giả được đánh giá là hàng đầu thế giới, rất nhiều người tự hỏi, nguồn năng lượng nào khiến ông có thể tuôn trào trong mọi hoạt động đến như vậy? Vượt lên chính mình Không phải ngẫu nhiên mà Brian Tracy chọn mục tiêu đầy thử thách cho mình như vậy. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo ở Canada, thuở nhỏ, Bryan Tracy phải mặc quần áo từ các cửa hàng từ thiện. Ông nghỉ học trước khi tốt nghiệp phổ thông và bắt đầu làm các công việc lao động chân tay thời vụ ở Canada và khắp nước Mỹ. Cuộc sống khó nhọc khiến ông suy nghĩ nhiều về khả năng của con người trong việc chinh phục những trở ngại trong cuộc sống. Năm 21 tuổi, ông làm việc trên một con tàu chở hàng của Na Uy. Đây chính là môi trường giúp ông bắt đầu hành trình tích lũy tài chính nhằm chinh phục mục tiêu vượt hoang mạc Sahara của mình. Hoàn thành được mục tiêu của bản thân, ông tiếp tục đến sống và làm việc tại nhiều quốc gia suốt 8 năm, tiếp tục tích lũy kinh nghiệm cho mình. Trở về quê hương, Brian vừa làm nhân viên bán hàng, vừa đi học buổi tối để hoàn thành bậc trung học, đại học và sau đó lấy bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh. Ông dành khoảng thời gian này để đọc, học hỏi và ứng dụng các bí quyết thành công của những người đi trước. Quá trình này giúp cho kết quả bán hàng của ông được cải thiện nhanh chóng. Chỉ sau 6 tháng, ông trở thành nhân viên bán hàng giỏi nhất công ty. Brian tiếp tục trau dồi kiến thức về nhân sự, xây dựng đội ngũ bán hàng, tiếp thị, tâm lý học, tạo động lực và cả lịch sử, chính trị... đồng thời gặp gỡ và học hỏi rất nhiều nhà lãnh đạo thành công. Vốn kiến thức và kinh nghiệm của ông ngày càng tăng, cùng những thành công liên tiếp trong kinh doanh và quản trị. Sau nhiều năm trăn trở về câu hỏi: “Điều gì làm cho một số người thành công hơn những người khác?”, Brian quyết định tổng kết tất cả trải nghiệm của mình để giúp đỡ người khác thành công. Ông bắt đầu với một hội thảo về vấn đề này và sau đó phát hành đĩa “Tư duy thành công” (The Psychology of Achievement). Công trình đầu tay này nhanh chóng bán được nửa triệu bản. Thành công này khiến ông có động lực để đi theo con đường diễn thuyết. Tới nay, Brian Tracy được biết đến là diễn giả hàng đầu thế giới về kiến tạo động lực thành công và hiện thực hóa ước mơ cuộc đời. Ông đã có hơn 30 năm nghiên cứu và đào tạo về tư duy thành công, tư vấn cho hơn 10.000 công ty và hơn 5 triệu người thông qua 5.000 buổi nói chuyện và hội thảo tại hơn 55 quốc gia. Những buổi thuyết giảng của ông luôn tràn đầy nhiệt huyết và truyền cảm, thúc đẩy người nghe hành động ngay để đạt được hiệu quả và thành tích đỉnh cao. Thành công thực chất là gặp nhiều thất bại - Những lời mời diễn thuyết cho tôi cơ hội để đi nhiều nơi, được tiếp xúc với nhiều dạng người khác nhau. Tuy nhiên, với tôi, người thành đạt là những người dám hành động. Những người này bắt tay làm việc ngay khi có ý tưởng. Suốt quá trình làm việc, họ cũng không cứng nhắc mà liên tục áp dụng những kiến thức mới, trải nghiệm mới... để điều chỉnh. Những người đến được với thành công thường là những người chủ động đặt mục tiêu và lên kế hoạch rõ ràng cho cuộc đời mình. * Nghĩa là chỉ cần có những tố chất này sẽ dễ dàng đến với thành công? - Những người thành công thực chất lại gặp thất bại nhiều hơn so với những người bình thường. Bởi vì, họ thường mất nhiều sức để... thử. Nghĩa là họ sẽ phải làm nhiều việc hơn bình thường. Hầu hết những việc đó thường không diễn ra theo đúng kế hoạch đã vạch ra. Trao đổi với những người thành đạt, tôi nghiệm ra, con đường đi đến thành công gắn liền với việc phấn đấu làm việc, kiên định để đạt được các mục tiêu nhỏ mỗi ngày, dần dần hướng đến mục tiêu lớn hơn. Họ không ngừng nâng cao kiến thức và kỹ năng, bền bỉ vượt qua mọi khó khăn, trở ngại cho tới ngày thành công. Đây mới chính là những yếu tố làm nên thành công. * Vậy có nguyên tắc riêng nào để thành công trong công việc và thành đạt trong cuộc sống không, thưa ông? - Cũng như trong hóa học hay vật lý, đều có những quy luật cụ thể, có những nguyên tắc thành công chỉ dành riêng cho công việc. Cũng có những nguyên tắc thành công cho cuộc sống gia đình và hầu hết những nguyên tắc này khác với những gì cần thiết trong công việc. Chẳng hạn, trong công việc, thành công của một người được xác định bởi chất lượng của công việc họ làm cũng như tính hiệu quả và hiệu suất trong cách bạn làm việc. Ở nhà, sự thành công lại được xác định bởi thời lượng và chất lượng mà bạn đầu tư cho những mối quan hệ với các thành viên trong gia đình bạn. Đó là hai cách sử dụng thời gian và công sức hoàn toàn khác nhau. * Với doanh nhân Việt Nam, theo ông, nguyên tắc thành công nào sẽ tốt cho họ hơn trong thời điểm này, công việc hay gia đình? - Thành công trong công việc hay trong cuộc sống đều có giá trị quan trọng. Nếu không có một gia đình hạnh phúc, người ta cũng khó có thể thành công. Tôi quan niệm, lúc nào cũng vun đắp cho gia đình mình, cho tình yêu của bản thân. Khi có tình yêu, mọi cảm xúc sẽ thăng hoa và công việc sẽ tiến triển tốt đẹp hơn. Trong giới hạn của thời gian, khi tới Việt Nam lần này, tôi muốn chia sẻ với các doanh nhân Việt Nam những nguyên tắc thành công thực tế, quan trọng và hữu hiệu nhất để giúp mọi người thành đạt và giúp doanh nghiệp có thể thành công trong kinh doanh. Trong cố gắng của mình, tôi sẽ phác thảo những chiến lược thành công vốn đã được những người thành đạt trên khắp thế giới áp dụng nhằm giúp mọi người nâng cao hiệu suất công việc từ 5 - 10 lần so với mức trung bình. Đây là những câu chuyện, không phải là một “bí kíp” dành riêng. Từ những câu chuyện thực tế này, chủ doanh nghiệp có thể lựa chọn để tìm thấy con đường có lợi nhất cho mình. Trong đó, tôi sẽ chia sẻ những phương pháp để “Nhân đôi hiệu năng công việc”. Đây là những nguyên tắc rất cơ bản nhưng thiết yếu, đã và đang được những người đi làm ở khắp nơi trên thế giới áp dụng, bất kể họ đang ở vị trí công việc thấp nhất hay đang trên những nấc thang hướng đến các vị trí quản lý cao cấp tại các tập đoàn hàng đầu. * Thực tế thì ông sống ở Mỹ, nơi có điều kiện sống và hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt với những nước phương Đông, đặc biệt là Việt Nam. Những nguyên tắc thành công của ông liệu có thích hợp? - Ai cũng biết lý thuyết rất dễ nói, dễ xây dựng bởi nó chứa đựng kỳ vọng ngày một hoàn hảo hơn của mỗi con người. Điều gây trở ngại luôn nằm ở thực tế. Tôi đã từng diễn thuyết ở nhiều nơi trên thế giới, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Phillipines, Thái Lan, Malaysia, Singapore và Indonesia... Ở mỗi địa phương, những người tham dự hội thảo đều phản hồi rằng những ý tưởng mà tôi chia sẻ đều có thể vận dụng ngay và rất có ích cho những tình huống của bản thân họ cũng như trong công việc. Hoàn cảnh mỗi nơi mỗi khác nhưng thử thách thì ở đâu cũng tương tự. Điều làm nên khác biệt chính là quá trình triển khai và hành động. Kích hoạt năng lượng bản thân * Vẫn biết khả năng con người là vô hạn, nhưng việc biết đánh thức bản thân rõ ràng là không dễ dàng, thưa ông? - Để kích hoạt năng lượng bản thân, cần có mục tiêu phải đủ lớn, cụ thể, khả thi và bản thân người đặt ra mục tiêu phải có sự hình dung thật sống động về nó. Chính nguồn năng lượng này sẽ thổi bùng ngọn lửa đam mê trong bạn, duy trì một ý chí vững vàng và một cơ thể khỏe mạnh để bạn theo đuổi và đạt được những mục tiêu lớn hơn trong sự nghiệp. Kinh nghiệm của tôi trong việc tạo hình hài cho mục tiêu của bản thân là viết mục tiêu ấy ra giấy. Điều này giúp tôi có sự cam kết để biến mục tiêu thành hiện thực. Một cách bản năng, con người sẽ tự hướng về mục tiêu của bản thân và kỳ diệu hơn nữa là mục tiêu cũng sẽ dần dịch chuyển về phía bạn. Quá trình này diễn ra đến một mốc thời gian đủ chín thì con người mục tiêu sẽ gặp nhau. * Ông từng chuyển việc đến 22 lần. Đó có phải là quá trình ông tìm kiếm, trải nghiệm để... đánh thức bản thân? - Trước đây, người ta quan niệm một người bắt đầu làm việc và gắn bó ở một công ty đến hết đời. Tuy nhiên, điều kiện ngày nay đã rất khác. Với một người năng động, luôn chủ động nâng cao kiến thức và kỹ năng của mình, họ sẽ cần nhiều cơ hội hơn để hoàn thiện bản thân. Khi đó, họ sẽ muốn làm một công việc khác tốt hơn, giúp bạn có thể kiếm nhiều tiền hơn cũng như có thể phát triển tài năng của mình. Tôi nghĩ, càng làm nhiều dạng công việc, trong nhiều lĩnh vực khác nhau, con người càng phát triển được nhiều kỹ năng và mở rộng tầm nhìn hơn. Nhờ đó, trong tương lai, họ sẽ có nhiều lợi thế và “có giá” hơn. * Nhưng nếu cái giá mà vị trí hiện tại đã tương đối và ổn định thì là một giải pháp an toàn, thưa ông? - Phần lớn người đi làm dễ rơi vào bẫy thu nhập: chấp nhận làm một công việc có thu nhập hấp dẫn nhưng chưa chắc là phù hợp với năng lực và đam mê của bản thân. Tuy nhiên, tôi vẫn cho rằng nếu không yêu thích 95% những gì đang làm, thì tốt nhất bạn nên rời bỏ công việc đó và tìm một việc làm mới. Bởi nếu thực sự say mê công việc của mình, bạn sẽ khó có thể rơi vào cảm giác chán nản, mất động lực. * Quay lại câu chuyện của cá nhân ông, việc ông rời trường học khá sớm có phải là do cảm giác chán nản ông vừa nhắc đến? - Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo khó và tự thấy mình cũng không phải là một cậu học trò giỏi. Thế nên tôi rời trường học sớm và bước vào đời bằng những công việc lao động chân tay như rửa chén hay việc đồng áng. Để vượt qua những lúc khó khăn như vậy, tôi buộc mình phải đọc thật nhiều và liên tục, không ngừng tự học và nâng cao kiến thức cũng như kỹ năng của mình. Cũng nhờ thế, tôi dần dần có được những cơ hội việc làm tốt hơn với mức lương cao hơn. * Vậy, đâu là nguyên nhân khiến ông trở lại trường học cho đến tận khi có chứng chỉ thạc sĩ quản trị kinh doanh? - Tiếp xúc với cuộc sống song song với quá trình đọc, tôi nghiệm ra những điều tôi tưởng chừng mình sáng tạo nên thì đã có những người đi trước tìm thấy và ghi lại đầy đủ trong sách vở. Tôi muốn học hỏi kinh nghiệm, kiến thức của người đi trước. Như vậy sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian hơn. * Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này! Theo báo Doanh nhân Sài gòn - Thư Anh thực hiện Theo Con đường thành công |
Thursday, January 5, 2012
Đức Khổng Tử nói về phẩm hạnh của người quân tử
Bài viết của Trí Chân
[MINH HUỆ 4-7-2010] Khổng Tử (551-479 trước Công nguyên) đã từng nói, “Hoa lan mọc trong rừng, tỏa hương thơm ngay cả khi không có ai xung quanh thưởng thức. Tương tự như vậy, người có nhân cách cao quý sẽ không để cảnh nghèo làm nhụt chí tu Đạo và xây dựng uy đức.”
Người quân tử luôn hiểu chân nghĩa của cuộc đời. Dù trong hoàn cảnh nào, họ luôn tôn trọng các chuẩn mực đạo đức trong việc làm và tự kiểm soát bản thân bằng cách tuân theo những lời dạy của các bậc thánh hiền.
Bất cứ nơi nào họ đến, họ đều lan tỏa lòng tốt và sự ảnh hưởng đến những người mà họ tiếp xúc, để người ta tôn thờ đạo đức và công lý. Hiệu quả và sự ảnh hưởng của những lời dạy ấy đã khắc họa rõ phẩm chất đạo đức của họ. Sau đây là một vài câu chuyện về Khổng Tử và các học trò đã được ghi lại trong 2 cuốn sách “Luận ngữ“ và “Khổng Tử gia ngữ“.
Người quân tử nói bằng hành động
Có một lần, Nhan Hồi hỏi thầy của mình là Khổng Tử: “Lời nói của phường tiểu nhân có những điểm gì chung? Là người quân tử, cần phải hiểu cho rõ.”
Khổng Tử đáp: “Một người quân tử nói bằng hành động. Trong tất cả lời nói và việc làm, người ấy đều thực hiện theo những chuẩn mực mà thánh nhân đã dạy. Một kẻ tiểu nhân chỉ giỏi nói miệng mà thôi. Kẻ ấy chỉ giỏi đòi hỏi và tìm lỗi của người khác, trong khi lại chẳng đóng góp gì. Một người quân tử đối nhân xử thế bằng sự chân thành. Khi nhìn thấy bạn bè của mình vi phạm đạo đức, người đó sẽ cảnh báo những hậu quả mà bạn mình phải gánh chịu và khuyên bạn hành động theo lương tâm. Lời nói của họ là phát xuất từ trong tâm bởi vì họ thực sự quan tâm đến hạnh phúc của người khác. Kết quả là tình bạn sẽ ngày càng sâu sắc hơn. Kẻ tiểu nhân thì lại thường kết thành bè đảng để gây rối. Tuy nhiên, chúng không thể không đổ lỗi và đâm sau lưng nhau.”
Khổng Tử cũng giảng: “Quân tử nghĩ về đức hạnh, tiểu nhân truy cầu hưởng thụ. Quân tử nghĩ về đạo lý; tiểu nhân truy cầu những đặc ân mà hắn có thể kiếm được.”
Điều này đã nói rõ những điểm khác nhau trong tâm của hai loại người.
- Người quân tử không xuôi theo dòng nước, huống hồ là thông đồng với kẻ khác.
- Tất cả những gì họ nghĩ đến là làm thế nào để thực hành đạo nghĩa.
Còn kẻ tiểu nhân thì lúc nào cũng chỉ lo nghĩ cho bản thân. Người quân tử tôn trọng phép tắc và quy củ. Kẻ tiểu nhân luôn đặt lợi ích cá nhân lên trên hết thảy mọi thứ, và tâm kẻ ấy chứa đầy những món lợi nhỏ nhen.
Điều này đã được đề cập đến trong cuốn “Đệ tử quy” (“Chuẩn mực của người học trò”), viết vào thời nhà Thanh (1644 – 1912), “Nhắc nhở người khác bằng lòng tốt; đức hạnh vẹn toàn cả đôi bề; Tìm bới sai lầm của người khác; chắc chắn mất lòng cả đôi bên.” Đây là một ví dụ nữa về sự khác nhau giữa hành động của kẻ tiểu nhân với người quân tử.
Lời nói và hành động của một người đều dựa trên những suy nghĩ của người đó. Một người quân tử luôn nuôi dưỡng những suy nghĩ tốt đẹp và lẽ phải. Lời nói và hành vi của người đó là kết tinh của tình thương, lòng tốt, và sự vị tha. Ở những nơi nào người quân tử đến, những suy nghĩ tinh khiết, tốt đẹp của họ sẽ lan tỏa ra những người xung quanh, thức tỉnh lương tâm của mọi người và trồng những hạt giống của sự chính trực và lòng nhân ái.
Dùng trí tuệ để tránh một cuộc chiến
Khổng Tử đã dẫn các học trò đến đất Khuông, một vùng thuộc nước Tống. Những người dân địa phương đã nhầm Khổng Tử với Dương Hổ, kẻ đã từng tấn công tàn bạo người dân đất Khuông. Họ ngay lập tức báo động cho Giản Tử, thủ lĩnh của người Khuông. Giản Tử vội vã tập hợp binh sĩ mặc giáp, rồi họ cưỡi ngựa đến bao vây Khổng Tử và các học trò của Ngài.
Tử Lộ, một trong những người học trò của Khổng Tử, có lòng dũng cảm thiên phú. Ông thấy khó chịu ngay khi nhìn thấy những người Khuông hung tợn vây xung quanh. Ông nắm lấy vũ khí sẵn sàng nghênh chiến.
Khổng Tử ngăn ông lại và nói:“Không lẽ những người đang tu luyện, hành thiện và công bình lại không thể ngăn chặn điều ác này sao? Ta thực sự sai lầm nếu không truyền rộng những áng thơ cổ cùng những tác phẩm lớn và đề cao nghi lễ và âm nhạc… Lại đây đã, Tử Lộ. Con hãy chơi nhạc và hát lên, rồi ta sẽ hòa tấu.”
Tử Lộ đặt vũ khí của mình xuống và lấy ra một nhạc cụ. Khổng Tử cũng tham gia. Sau ba vòng ca hát, người dân Khuông nhận ra rằng Khổng Tử là một vị thánh hiền, chứ không phải là Dương Hổ tàn bạo. Họ cởi bỏ áo giáp và bỏ đi.
Ngay cả khi ở trong vòng vây, Khổng Tử vẫn giữ được sự điềm tĩnh. Đầu tiên ông tự nhìn lại chính mình để xem xem mình có làm gì sai hay không. Nếu không thì ông sẽ tiếp tục việc giảng dạy của mình và tác động tới những người Khuông thông qua lễ nghi và âm nhạc. Hành động của ông minh chứng rõ sự khác biệt giữa ông và Dương Hổ. Những người dân Khuông nhận ra rằng Khổng Tử là một người nhã nhặn, một người quân tử, một bậc thánh hiền, mặc dù dung mạo bề ngoài của ông rất giống Dương Hổ. Họ đã bị đẩy lui và cảm thấy thẹn. Cuối cùng, họ đã cởi bỏ áo giáp và trở về một cách yên bình. Khổng Tử đã thay đổi người khác bằng đức hạnh của mình, ông đã đảo ngược tình thế nguy hiểm. Khổng Tử đã minh chứng được lòng tốt xuất phát từ nội tâm. Mọi người đều có thể cảm nhận được lòng độ lượng cùng ý thức trách nhiệm của ông trong việc duy trì văn hóa truyền thống.
Tập trung vào vấn đề chính
Một ngày nọ, Lỗ Ai Công hỏi Khổng Tử, “Ngày xưa, vua Thuấn đã đội loại vương miện gì?”
Khổng Tử không trả lời.
Nhà vua hỏi lại: “Ta đang cố gắng học hỏi từ ngài. Tại sao ngài không trả lời?”
Khổng Tử cúi đầu đáp: “Bởi vì câu hỏi Bệ Hạ đưa ra không tập trung vào những vấn đề chính. Đó là lý do tại sao thần đang suy nghĩ làm thế nào để trả lời.”
Nhà vua thấy tò mò và hỏi: “Những vấn đề chính là gì?”
Khổng Tử trả lời: “Trong suốt triều đại vua Thuấn, ông luôn thương dân như con của mình. Ông đề cao giáo dục đạo đức và bổ nhiệm những người hiền tài. Đức hạnh của ông lan xa khắp chốn. Tuy vậy, ông vẫn luôn giản dị khiêm nhường. Ông đã làm mọi thứ thay đổi thật nhẹ nhàng, giống như bốn mùa luân phiên thay đổi trong tự nhiên. Ông khuyến khích việc giáo hóa đạo đức trong dân chúng. Lòng tốt của ông trải rộng ra cho mọi chúng sinh. Đó là lý do tại sao những lời giáo huấn của ông được lưu truyền rộng rãi. Ngay cả những con chim Phượng hoàng và Kỳ Lân huyền thoại cũng đã xuất hiện trên mảnh đất mà ông cai trị, chứng tỏ rõ uy đức của ông. Tất cả điều này có được là nhờ ân đức vua Thuấn dành cho nhân dân. Bệ Hạ hỏi về loại vương miện mà vua Thuấn đã mang thay vì hỏi những vấn đề quan trọng hàng đầu như thế, vì thế thần không trả lời ngay được.”
Sống với người tốt cũng giống như được vào một căn phòng đầy hoa lan
Khổng Tử từng nói với Tăng Sâm, “Tử Hạ sẽ tiến bộ rất nhanh vì trò ấy rất thích dành thời gian để ở bên những người có đức hạnh cao hơn mình. Ở với những người tốt cũng giống như sống trong một căn nhà đầy hoa lan. Con người sẽ đồng hóa với môi trường. Vì vậy, một người quân tử phải cẩn thận trong việc lựa chọn người cùng chung sống.”
Điều đó cũng đã được nói đến trong cuốn “Đệ tử quy”, “Thật vô cùng ích lợi nếu một người được sống gần những người có thiện tâm. Mỗi ngày trôi qua, đức hạnh của người đó sẽ một tăng, và những thiếu sót của người ấy cũng bớt đi. Phải sống xa những người tốt thì thật là nguy hại. Người mà bị đẩy vào chỗ của những kẻ tiểu nhân thì rồi cũng sẽ hư hỏng.”
Điều này cho chúng ta biết rằng, bằng cách sống gần với những người nhân đức, kết bạn với họ hoặc nhận họ làm thầy, người ta có thể mở rộng kiến thức của mình cũng như giúp bản thân họ ngày một thêm hoàn thiện. Một người quân tử sẽ là một tấm gương tốt. Những người xung quanh anh ta sẽ học cách nhìn vào bản thân họ để tìm những thiếu sót của mình và liên tục tự đặt ra những tiêu chuẩn cao hơn cho mình. “Thường xuyên tự tìm thấy những khuyết điểm của bản thân, thay vì đổ lỗi cho người khác” đòi hỏi một người phải thật trong sáng khoáng đạt trong lời nói và hành vi của mình. Nghiêm khắc với bản thân nhưng khoan dung với người khác là biểu hiện của lòng độ lượng. Khổng Tử nói: “Một người quân tử học Đạo và yêu thương mọi người.” Ông đã chỉ ra rằng một người quân tử có Đạo cần phải biết quan tâm đến mọi người, biết áp dụng các nguyên tắc người đó đã học được từ Đạo để đối đãi với người khác. Tâm đại từ bi cũng giống như nước vậy, làm lợi cho tất cả trong khi bản thân không giữ lại gì.
Đức hạnh của một người quân tử sẽ đem lại sự hòa hợp và thái bình, sẽ nhắc nhở người ta tu chỉnh bản thân mình và không làm điều gì trái với lương tâm. Trong thế giới vật chất ngày nay, nơi mà có quá nhiều người mang lòng tham danh lợi, thì điều đó còn chính yếu hơn nữa trong việc giúp con người có thể giữ vững được lương tâm và đạo đức.
[MINH HUỆ 4-7-2010] Khổng Tử (551-479 trước Công nguyên) đã từng nói, “Hoa lan mọc trong rừng, tỏa hương thơm ngay cả khi không có ai xung quanh thưởng thức. Tương tự như vậy, người có nhân cách cao quý sẽ không để cảnh nghèo làm nhụt chí tu Đạo và xây dựng uy đức.”
Người quân tử luôn hiểu chân nghĩa của cuộc đời. Dù trong hoàn cảnh nào, họ luôn tôn trọng các chuẩn mực đạo đức trong việc làm và tự kiểm soát bản thân bằng cách tuân theo những lời dạy của các bậc thánh hiền.
Bất cứ nơi nào họ đến, họ đều lan tỏa lòng tốt và sự ảnh hưởng đến những người mà họ tiếp xúc, để người ta tôn thờ đạo đức và công lý. Hiệu quả và sự ảnh hưởng của những lời dạy ấy đã khắc họa rõ phẩm chất đạo đức của họ. Sau đây là một vài câu chuyện về Khổng Tử và các học trò đã được ghi lại trong 2 cuốn sách “Luận ngữ“ và “Khổng Tử gia ngữ“.
Người quân tử nói bằng hành động
Có một lần, Nhan Hồi hỏi thầy của mình là Khổng Tử: “Lời nói của phường tiểu nhân có những điểm gì chung? Là người quân tử, cần phải hiểu cho rõ.”
Khổng Tử đáp: “Một người quân tử nói bằng hành động. Trong tất cả lời nói và việc làm, người ấy đều thực hiện theo những chuẩn mực mà thánh nhân đã dạy. Một kẻ tiểu nhân chỉ giỏi nói miệng mà thôi. Kẻ ấy chỉ giỏi đòi hỏi và tìm lỗi của người khác, trong khi lại chẳng đóng góp gì. Một người quân tử đối nhân xử thế bằng sự chân thành. Khi nhìn thấy bạn bè của mình vi phạm đạo đức, người đó sẽ cảnh báo những hậu quả mà bạn mình phải gánh chịu và khuyên bạn hành động theo lương tâm. Lời nói của họ là phát xuất từ trong tâm bởi vì họ thực sự quan tâm đến hạnh phúc của người khác. Kết quả là tình bạn sẽ ngày càng sâu sắc hơn. Kẻ tiểu nhân thì lại thường kết thành bè đảng để gây rối. Tuy nhiên, chúng không thể không đổ lỗi và đâm sau lưng nhau.”
Khổng Tử cũng giảng: “Quân tử nghĩ về đức hạnh, tiểu nhân truy cầu hưởng thụ. Quân tử nghĩ về đạo lý; tiểu nhân truy cầu những đặc ân mà hắn có thể kiếm được.”
Điều này đã nói rõ những điểm khác nhau trong tâm của hai loại người.
- Người quân tử không xuôi theo dòng nước, huống hồ là thông đồng với kẻ khác.
- Tất cả những gì họ nghĩ đến là làm thế nào để thực hành đạo nghĩa.
Còn kẻ tiểu nhân thì lúc nào cũng chỉ lo nghĩ cho bản thân. Người quân tử tôn trọng phép tắc và quy củ. Kẻ tiểu nhân luôn đặt lợi ích cá nhân lên trên hết thảy mọi thứ, và tâm kẻ ấy chứa đầy những món lợi nhỏ nhen.
Điều này đã được đề cập đến trong cuốn “Đệ tử quy” (“Chuẩn mực của người học trò”), viết vào thời nhà Thanh (1644 – 1912), “Nhắc nhở người khác bằng lòng tốt; đức hạnh vẹn toàn cả đôi bề; Tìm bới sai lầm của người khác; chắc chắn mất lòng cả đôi bên.” Đây là một ví dụ nữa về sự khác nhau giữa hành động của kẻ tiểu nhân với người quân tử.
Lời nói và hành động của một người đều dựa trên những suy nghĩ của người đó. Một người quân tử luôn nuôi dưỡng những suy nghĩ tốt đẹp và lẽ phải. Lời nói và hành vi của người đó là kết tinh của tình thương, lòng tốt, và sự vị tha. Ở những nơi nào người quân tử đến, những suy nghĩ tinh khiết, tốt đẹp của họ sẽ lan tỏa ra những người xung quanh, thức tỉnh lương tâm của mọi người và trồng những hạt giống của sự chính trực và lòng nhân ái.
Dùng trí tuệ để tránh một cuộc chiến
Khổng Tử đã dẫn các học trò đến đất Khuông, một vùng thuộc nước Tống. Những người dân địa phương đã nhầm Khổng Tử với Dương Hổ, kẻ đã từng tấn công tàn bạo người dân đất Khuông. Họ ngay lập tức báo động cho Giản Tử, thủ lĩnh của người Khuông. Giản Tử vội vã tập hợp binh sĩ mặc giáp, rồi họ cưỡi ngựa đến bao vây Khổng Tử và các học trò của Ngài.
Tử Lộ, một trong những người học trò của Khổng Tử, có lòng dũng cảm thiên phú. Ông thấy khó chịu ngay khi nhìn thấy những người Khuông hung tợn vây xung quanh. Ông nắm lấy vũ khí sẵn sàng nghênh chiến.
Khổng Tử ngăn ông lại và nói:“Không lẽ những người đang tu luyện, hành thiện và công bình lại không thể ngăn chặn điều ác này sao? Ta thực sự sai lầm nếu không truyền rộng những áng thơ cổ cùng những tác phẩm lớn và đề cao nghi lễ và âm nhạc… Lại đây đã, Tử Lộ. Con hãy chơi nhạc và hát lên, rồi ta sẽ hòa tấu.”
Tử Lộ đặt vũ khí của mình xuống và lấy ra một nhạc cụ. Khổng Tử cũng tham gia. Sau ba vòng ca hát, người dân Khuông nhận ra rằng Khổng Tử là một vị thánh hiền, chứ không phải là Dương Hổ tàn bạo. Họ cởi bỏ áo giáp và bỏ đi.
Ngay cả khi ở trong vòng vây, Khổng Tử vẫn giữ được sự điềm tĩnh. Đầu tiên ông tự nhìn lại chính mình để xem xem mình có làm gì sai hay không. Nếu không thì ông sẽ tiếp tục việc giảng dạy của mình và tác động tới những người Khuông thông qua lễ nghi và âm nhạc. Hành động của ông minh chứng rõ sự khác biệt giữa ông và Dương Hổ. Những người dân Khuông nhận ra rằng Khổng Tử là một người nhã nhặn, một người quân tử, một bậc thánh hiền, mặc dù dung mạo bề ngoài của ông rất giống Dương Hổ. Họ đã bị đẩy lui và cảm thấy thẹn. Cuối cùng, họ đã cởi bỏ áo giáp và trở về một cách yên bình. Khổng Tử đã thay đổi người khác bằng đức hạnh của mình, ông đã đảo ngược tình thế nguy hiểm. Khổng Tử đã minh chứng được lòng tốt xuất phát từ nội tâm. Mọi người đều có thể cảm nhận được lòng độ lượng cùng ý thức trách nhiệm của ông trong việc duy trì văn hóa truyền thống.
Tập trung vào vấn đề chính
Một ngày nọ, Lỗ Ai Công hỏi Khổng Tử, “Ngày xưa, vua Thuấn đã đội loại vương miện gì?”
Khổng Tử không trả lời.
Nhà vua hỏi lại: “Ta đang cố gắng học hỏi từ ngài. Tại sao ngài không trả lời?”
Khổng Tử cúi đầu đáp: “Bởi vì câu hỏi Bệ Hạ đưa ra không tập trung vào những vấn đề chính. Đó là lý do tại sao thần đang suy nghĩ làm thế nào để trả lời.”
Nhà vua thấy tò mò và hỏi: “Những vấn đề chính là gì?”
Khổng Tử trả lời: “Trong suốt triều đại vua Thuấn, ông luôn thương dân như con của mình. Ông đề cao giáo dục đạo đức và bổ nhiệm những người hiền tài. Đức hạnh của ông lan xa khắp chốn. Tuy vậy, ông vẫn luôn giản dị khiêm nhường. Ông đã làm mọi thứ thay đổi thật nhẹ nhàng, giống như bốn mùa luân phiên thay đổi trong tự nhiên. Ông khuyến khích việc giáo hóa đạo đức trong dân chúng. Lòng tốt của ông trải rộng ra cho mọi chúng sinh. Đó là lý do tại sao những lời giáo huấn của ông được lưu truyền rộng rãi. Ngay cả những con chim Phượng hoàng và Kỳ Lân huyền thoại cũng đã xuất hiện trên mảnh đất mà ông cai trị, chứng tỏ rõ uy đức của ông. Tất cả điều này có được là nhờ ân đức vua Thuấn dành cho nhân dân. Bệ Hạ hỏi về loại vương miện mà vua Thuấn đã mang thay vì hỏi những vấn đề quan trọng hàng đầu như thế, vì thế thần không trả lời ngay được.”
Sống với người tốt cũng giống như được vào một căn phòng đầy hoa lan
Khổng Tử từng nói với Tăng Sâm, “Tử Hạ sẽ tiến bộ rất nhanh vì trò ấy rất thích dành thời gian để ở bên những người có đức hạnh cao hơn mình. Ở với những người tốt cũng giống như sống trong một căn nhà đầy hoa lan. Con người sẽ đồng hóa với môi trường. Vì vậy, một người quân tử phải cẩn thận trong việc lựa chọn người cùng chung sống.”
Điều đó cũng đã được nói đến trong cuốn “Đệ tử quy”, “Thật vô cùng ích lợi nếu một người được sống gần những người có thiện tâm. Mỗi ngày trôi qua, đức hạnh của người đó sẽ một tăng, và những thiếu sót của người ấy cũng bớt đi. Phải sống xa những người tốt thì thật là nguy hại. Người mà bị đẩy vào chỗ của những kẻ tiểu nhân thì rồi cũng sẽ hư hỏng.”
Điều này cho chúng ta biết rằng, bằng cách sống gần với những người nhân đức, kết bạn với họ hoặc nhận họ làm thầy, người ta có thể mở rộng kiến thức của mình cũng như giúp bản thân họ ngày một thêm hoàn thiện. Một người quân tử sẽ là một tấm gương tốt. Những người xung quanh anh ta sẽ học cách nhìn vào bản thân họ để tìm những thiếu sót của mình và liên tục tự đặt ra những tiêu chuẩn cao hơn cho mình. “Thường xuyên tự tìm thấy những khuyết điểm của bản thân, thay vì đổ lỗi cho người khác” đòi hỏi một người phải thật trong sáng khoáng đạt trong lời nói và hành vi của mình. Nghiêm khắc với bản thân nhưng khoan dung với người khác là biểu hiện của lòng độ lượng. Khổng Tử nói: “Một người quân tử học Đạo và yêu thương mọi người.” Ông đã chỉ ra rằng một người quân tử có Đạo cần phải biết quan tâm đến mọi người, biết áp dụng các nguyên tắc người đó đã học được từ Đạo để đối đãi với người khác. Tâm đại từ bi cũng giống như nước vậy, làm lợi cho tất cả trong khi bản thân không giữ lại gì.
Đức hạnh của một người quân tử sẽ đem lại sự hòa hợp và thái bình, sẽ nhắc nhở người ta tu chỉnh bản thân mình và không làm điều gì trái với lương tâm. Trong thế giới vật chất ngày nay, nơi mà có quá nhiều người mang lòng tham danh lợi, thì điều đó còn chính yếu hơn nữa trong việc giúp con người có thể giữ vững được lương tâm và đạo đức.
Thursday, December 22, 2011
[Om Mani] Cha mẹ và con trẻ - TÌNH YÊU NẢY SINH từ sự tôn trọng và lòng biết ơn sâu sắc
Chào các bạn,
Mình mới dịch bài này của OSHO chứa đựng tầm nhìn sâu sắc về quan hệ giữa cha mẹ và con trẻ.
Hy vọng các bậc cha mẹ nếu đọc sẽ ngộ ra nhiều điều quan trọng trong việc tương tác với trẻ.
Trân trọng,
Trần Hoàng Hà
23/12/2012
CHA MẸ & CON TRẺ, Trích từ "Lời mời gọi" Chương 10
TÌNH YÊU NẢY SINH từ sự tôn trọng và lòng biết ơn sâu sắc
Tình yêu không phải là một điều hợp lý. Nó không phải là một phép tam đoạn luận: bà ấy là mẹ của bạn, do đó bạn phải yêu bà ấy. Bất cứ khi nào sự bắt buộc đi vào, tình yêu sẽ rất dễ đổ vỡ và biến mất.
Mọi người đều xứng đáng giá hơn bất cứ thứ gì mà thậm chí anh ta có thể mơ thấy, để nhận được tình yêu, để chia sẻ tình yêu, để vui mừng trong việc làm cho tình yêu trở thành chính bản thân cuộc sống của mình.
Sự sinh thành không ở trong tay bạn, cái chết cũng vậy. Giữa sống và chết chỉ có một điều ở trong tay của bạn, và đó là tình yêu. Và thật không may, cái là tự do duy nhất của bạn thì lại không có sẵn cho tất cả mọi người.
Đọc thêm...
Mọi người đều xứng đáng được nhiều hơn nữa, nhiều hơn những thứ mà anh ta đang nhận được. Tuy nhiên, trách nhiệm của việc không nhận được nhiều hơn lại thuộc về bạn.
Mọi người đều sống một cuộc sống khép kín. Họ giữ cho tất cả các cửa và cửa sổ của trái tim hoàn toàn đóng chặt. Nó xảy ra bởi vì một hiện tượng tự nhiên là đứa trẻ quá nhỏ và bất lực như vậy, và quá phụ thuộc và luôn luôn trong nỗi sợ hãi, tất cả mọi người đều lớn hơn và mạnh hơn. Kinh nghiệm của nó về sự sợ hãi lúc ban đầu kích hoạt quá trình đóng kín trái tim.
Sợ hãi là một quá trình đóng kín.
Tình yêu thì ngược lại, đó là quá trình cởi mở. Thật không may, cái cách mà nhân loại đã sống, lại là sống trong sợ hãi. Thậm chí nếu có yêu thương, thì người ta cũng yêu xuất phát từ nỗi sợ hãi. Và một tình yêu xuất phát từ sợ hãi thì hoàn toàn sai. Tốt hơn là không yêu - bởi vì ít nhất nó sẽ làm tổn thương bạn cho đến thời điểm bạn sẽ phải thay đổi - hơn là có một tình yêu sai thay thế an ủi bạn, lừa dối bạn và giữ chặt bạn tai nơi bạn đang ở, một sinh thể đóng kín.
Đứa trẻ được cha mẹ yêu cầu phải yêu thương họ, nó gần như là một mệnh lệnh. Tình yêu không thể được ra lệnh. Nếu thông qua mệnh lệnh, một cái gì đó giống như tình yêu xảy ra thì đó là dối trá, và sâu bên trong nó là sự căm ghét bởi vì không ai muốn bị ra lệnh, bị thao túng.. Nhưng mỗi bậc cha mẹ đều đang thao túng con mình: Ta là mẹ của con - hãy yêu ta!
Có gì là lớn lao trong việc là mẹ của bạn? Có gì là lớn lao trong việc là cha của bạn? Nếu có một cái gì đó rất lớn lao, đứa trẻ sẽ bắt đầu yêu thương bạn và rồi sẽ có một thế giới hoàn toàn khác hẳn. Đứa trẻ sẽ học yêu theo cách riêng của nó, không phải vì bạn đã ra lệnh mà bởi vì con người bạn.
Tình yêu phát sinh từ sự tôn trọng và lòng biết ơn sâu sắc, nhìn thấy vẻ đẹp và sự cao quý của bạn, nhìn thấy tình yêu vô điều kiện của bạn mà không cần được đáp lại bằng bất cứ cái gì, kể cả là tình yêu. Nếu cha mẹ có thể bao bọc đứa trẻ bằng tình yêu mà không yêu cầu bất cứ cái gì cái gì đáp lại, thì đáp ứng sẽ xảy ra. Và đáp ứng này sẽ có tính chân thực, nó sẽ đến từ việc cởi mở trái tim. Đứa trẻ sẽ biết rằng không có lý do gì để sợ. Đây không phải là người cần phải sợ, bạn có thể cởi mở, và điều này là sự khởi đầu của một cuộc sống hoàn toàn khác hẳn. Một khi bạn đã học được rằng, trái tim cởi mở không chỉ có khả năng nhận được tình yêu từ cha mẹ của bạn, nó cũng có khả năng nhận được tình yêu từ tòan bộ sự tồn tại.
Toàn bộ bí mật chỉ là một điều đơn giản - sự cởi mở của trái tim. Nhưng những gì thực sự đã xảy ra là người cha và người mẹ đã không yêu thương nhau. Người chồng yêu thương bởi vì anh ta là một người chồng, anh ta có bổn phận phải yêu. Người vợ yêu thương vì bị bắt buộc, bởi vì cô đã bị bắt làm nô lệ thông qua hôn nhân, cô ấy phải yêu.
Khi có sự bắt buộc, vẻ đẹp của tình yêu biến mất và thực trạng của tình yêu thay đổi theo chiều hướng đối lập hoàn toàn. Người vợ và người chồng yêu nhau và ghét nhau cùng một lúc. Họ ghét vì họ phải yêu theo nghĩa vụ, theo các quy tắc của xã hội, quy ước, luật lệ. Người chồng có thể đòi hỏi tình yêu, người vợ có thể đòi hỏi tình yêu, nhưng đó là một tình yêu đòi hỏi; theo những cách tinh tế mà họ đòi hỏi, chứ không trực tiếp.
Khi người chồng trở về nhà ... người vợ hoàn toàn tự nhiên nghe radio, xem truyền hình, ca hát một mình, và người chồng đến, cô ngay lập tức nằm xuống và đột ngột nhức đầu!
Câu chuyện là A-đam đã liên tục làm phiền Chúa: đầu tiên, anh ta đã sống một mình và anh ta không có ý tưởng nào rằng có một cái gì đó thiếu trong cuộc sống của mình. Nhưng sau đó anh ta nhìn thấy một con bò đực làm một cái gì đó đối với một con bò cái. Và anh ta chạy đến bên Chúa và nói, "Điều gì đang xảy ra? Con bò đực đang làm cái gì đối với con bò cái vậy? "
Và Chúa đã phán, "Con đừng làm phiền ta mãi nữa. Ta đã nói với con, con bò đực đang yêu con bò cái." Và với tất cả các loài động vật và các loài chim ... và Adam cứ hỏi nữa. Cuối cùng, Chúa đã trở nên mệt mỏi và nói với ông, "Ta cũng sẽ cho con một người vợ."
Và ngày hôm sau, vào buổi sáng, Adam chạy theo Chúa và nói, "Con xin một phút, đau đầu là gì hả cha?"
Đêm đầu tiên, đêm đầu tiên khởi sự của nhân loại, và nhức đầu là vấn đề đầu tiên xảy ra, người vợ bị đau đầu.
Đây là những cách thao túng. Khi vợ bạn bị đau đầu, điều tự nhiên là bạn phải có tình yêu thương. Đây không phải là thời gian để cãi nhau hoặc đánh nhau hoặc tranh luận hay nói ra những điều mà cô ấy đã làm sai. Để lúc khác - đây không phải là lúc, cô đã đang khổ sở rồi. Đau đầu là một cách để đòi hỏi sự thông cảm của bạn, nhưng đó không phải là tình yêu. Người đàn ông sẽ tỏ ra cảm thông và cảm thông là điều xấu xí so với tình yêu. Luôn luôn nhớ rằng: tất cả những phẩm chất này là tương đối.
Sự cảm thông là tốt so với ác cảm, nhưng sự cảm thông là rất nghèo nàn và xấu xí so với tình yêu.
Bạn đã nghe nói về luật tương đối của Albert Einstein. Ai đó đã đơn giản hóa nó: thuyết tương đối nói rằng tất cả phụ thuộc vào phía cửa bên nào của nhà vệ sinh mà bạn đang ở. Nếu bạn đang ở trong thời gian trôi đi rất nhanh, và nếu bạn đang ở ngoài thời gian trôi đi rất chậm. Cùng một thời gian, chỉ là do cánh cửa đã tạo ra tòan bộ rắc rối.
Tình yêu là một cái gì đó có thể nảy nở trong vẻ đẹp của nó chỉ khi không được yêu cầu, khi nó không được đòi hỏi. Khi nó tự đến, thậm chí là vô thức, nó có vẻ đẹp kì diệu. Khoảnh khắc bạn yêu cầu, nó có thể đến, bởi vì người vợ phụ thuộc vào bạn ... và theo những cách nhất định, người chồng cũng phụ thuộc vào vợ. Tình yêu xảy ra giữa hai người độc lập không phải giữa hai nô lệ của nhau. Và bọn trẻ khốn khổ được nuôi dưỡng bởi hai người mà chính họ không biết bí mật của việc cởi mở trái tim.
Một cách tự nhiên, họ bắt đầu ngay từ lúc đầu tiên. Người mẹ nói, "Bố con đấy, hãy mỉm cười!" như thể những điều này có thể được ra lệnh. Nụ cười ... và đứa trẻ khốn khổ đã phải mỉm cười. Bây giờ có cái gì trong con người bạn gọi là bố này mà đứa trẻ khốn khổ phải mỉm cười? Và đứa trẻ khốn khổ không hiểu anh chàng kia đã làm cái gì mà nó phải mỉm cười. Tuy nhiên, nó phải cười, nụ cười đó sẽ trở thành, tự nhiên, một nụ cười của Jimmy Carter, hoàn toàn giả tạo. Đứa trẻ bắt đầu trở thành một chính trị gia, nó mỉm cười vì nó biết rằng theo cách đó nó sẽ được đánh giá cao, được cho là một đứa bé dễ thương. Nếu nó không cười, nó sẽ bị cho là không có giá trị, và không ai muốn bị lên án là không có giá trị. Đó là cách mà, từ từ, đứa trẻ bắt đầu học những thứ giả tạo: nụ cười giả tạo, tình yêu giả tạo, sự tôn trọng giả tạo.
Trong một thế giới có ý thức và chân thực, đầu tiên người chồng và người vợ nên tìm hiểu xem là làm thế nào để duy trì độc lập thế mà vẫn cho phép tình yêu đi qua. Họ không nên đến quá gần nhau. Kahlil Gibran đã đúng khi ông nói với những người yêu nhau ", bạn nên đứng như những cột trụ của một ngôi đền - xa nhau, nhưng hỗ trợ một mái nhà." Tình yêu của bạn nên được bạn hỗ trợ, nhưng bạn nên để khoảng trống đủ cho mỗi người có lãnh thổ cá nhân riêng, không gian của cá nhân của riêng mình, tính cá biệt riêng của mình.
Bạn không nên xâm phạm không gian riêng của nhau. Nhưng cần nói gì về sự xâm phạm? Những người chồng và người vợ trở thành thám tử, nhân viên FBI do thám lẫn nhau. Họ đang liên tục tìm kiếm trong các xó xỉnh trong đáy mắt: Điều gì đang xảy ra? Đây không phải là tình yêu. Đây là sự thống trị, điều này là đơn thuần là tính dục động vật. Một đứa trẻ được sinh ra tình trạng này, và thật không may nó lại được nuôi dưỡng bởi những người này. Chính họ không biết tình yêu là gì, họ đã bỏ lỡ tàu. Bây giờ họ sẽ đào tạo những đứa trẻ bỏ lỡ tàu. Và điều này tiếp tục từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Vừa mới đây thôi, có một câu hỏi từ Veena - làm thế nào để cởi mở trái tim? Nó giống như ai đó hỏi làm thế nào để mở mắt. Nếu bạn từ đầu bị buộc phải và bị ra lệnh phải mở mắt, có lẽ bạn sẽ có trả đũa bằng cách đóng chúng. Điều đó sẽ là được sự quyết đoán của bạn, cá tính của bạn, và bạn hoàn toàn có thể đã quên làm thế nào để mở mắt. Bây giờ, bạn có nghĩ rằng có thể có một số chương trình đào tạo để mở trái tim, một số kỷ luật, một số kỹ thuật? Đó sẽ là một sai lầm khác. Bạn có thể giả vờ rằng trái tim của bạn đang cởi mở. Đó là tất cả những gì sẽ xảy ra bởi kỷ luật của bạn, chương trình đào tạo và kỹ thuật.
Điều cần thiết là phải hiểu sâu sắc về lý do tại sao trái tim lại đóng kín. Không cần phải lo lắng về việc mở. Chỉ cần biết lý do tại sao nó được đóng lại, bạn sẽ bắt gặp tất cả những nỗi sợ hãi đã đóng kín nó. Bây giờ những nỗi sợ hãi không còn đó nữa, nhưng một khi bạn đã đóng các cửa ra vào và cửa sổ, thế thì chúng vẫn tiếp tục đóng.
Bây giờ không ai ép buộc bạn, bây giờ bạn đã đủ trưởng thành. Bạn có thể khẳng định chính mình, bạn có thể là một cá nhân. Bạn có thể nói với cha của bạn, "Nếu bố đáng yêu, con sẽ yêu, nhưng không phải vì bố là người cha của con." Bạn có thể nói với mẹ của bạn, "Hãy tạo ra phẩm chất đáng yêu và con sẽ yêu mẹ - không chỉ là con, mà những người khác nữa cũng sẽ yêu mẹ - nhưng không phải vì mẹ là mẹ của con."
Tình yêu là không phải là một điều hợp lý. Nó không phải là một phép tam đoạn luận: bà ấy là mẹ của bạn, do đó bạn phải yêu bà ấy. Bất cứ nơi nào có sự bắt buộc đi vào, thì tình yêu sẽ là rất dễ đổ vỡ và biến mất.
Mọi người đều xứng đáng giá hơn bất cứ thứ gì mà thậm chí anh ta có thể mơ thấy, để nhận được tình yêu, để chia sẻ tình yêu, để vui mừng trong việc làm cho tình yêu trở thành chính bản thân cuộc sống của mình.
Sự sinh thành không ở trong tay bạn, cái chết cũng vậy. Giữa sống và chết chỉ có một điều ở trong tay của bạn, và đó là tình yêu. Và thật không may, cái là tự do duy nhất của bạn thì lại không có sẵn cho tất cả mọi người.
Prem Neera, bạn đang nói, "Tôi có xứng đáng thật nhiều như vậy không?" Bạn xứng đáng nhiều hơn nữa. Chỉ cần học cách đón nhận, chỉ cần học cách khiêm tốn, chỉ cần học cách đơn giản, chỉ cần học cách tin tưởng. Ngay cả khi cả thế giới lừa dối bạn, hãy cứ vẫn tin tưởng, bởi vì đó là vấn đề của họ nếu họ là lừa đảo, đó không phải là vấn đề của bạn.
"Chuyện gì xảy ra vậy?" Một người đàn ông lừa dối bạn và bạn bắt đầu không tin toàn bộ nhân loại. Bạn có thấy sự phi lý của nó? Ngay cả khi toàn thể nhân loại lừa dối bạn, tôi nói với bạn, hãy vẫn cứ tin tưởng - bởi vì sự tin tưởng có giá trị hơn, nó có một giá trị nội tại. Nó không phụ thuộc vào liệu mọi người có đáng tin cậy hay không. Và nếu bạn có thể tin tưởng bất chấp sự không đáng tin của họ, bạn có thể tạo ra một cuộc cách mạng trong trái tim họ nữa, bởi vì họ cũng là con người như bạn.
Họ cũng là nạn nhân của xã hội và khuôn mẫu tương tự như bạn. Bạn may mắn nếu bạn đã mở một cửa sổ. Bạn may mắn nếu tình cờ, một cánh cửa đã được hé mở. Bạn đã may mắn để vì không phải là một phần của nhân loại đóng kín.
Bây giờ, sự cởi mở nhỏ nhoi này phải được làm cho lớn hơn. Trong thực tế, một thời điểm sẽ phải đến trong cuộc đời của tình yêu khi tất cả các cửa sổ và cửa ra vào biến mất, không chỉ có vậy, mà tất cả các bức tường cũng biến mất.
Bạn chỉ ở dưới bầu trời rộng mở, các ngôi sao và bạn sẽ được bao bọc từ tất cả các hướng, tất cả các chiều, với tình yêu và phúc lạc mênh mông mà bạn không thể tin được tại sao nó xảy ra với bạn.
Đây là phép lạ duy nhất trên thế giới. Đi trên mặt nước không phải là một phép lạ, nó chỉ là một sự ngu xuẩn. Biến nước thành rượu không phải là một phép lạ, đó là tội phạm. Phép lạ duy nhất tôi biết là một trái tim cởi mở toàn bộ, hoàn toàn. Không có tình huống nào, không có điều kiện có thể đóng nó lại.
Thiền sẽ giúp bạn. Thiền gần như là một chìa khóa vàng, một chìa khóa vạn năng mở ra nhiều cánh cửa.
Wednesday, December 14, 2011
Ai là nhà Khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại ?
Nhiều người không ngần ngại bầu chọn nhà khoa học Đức gốc Do Thái, Albert Einstein là nhà khoa học vĩ đại nhất thế kỷ 20, đồng thời là nhà khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại, vì ông đã nêu ra thuyết tương đối đặc biệt (the special theory of relativity) vào năm 1905 và thuyết tương đối tổng quát (the general theory of relativity) vào năm 1916, làm đảo lộn nhận thức của loài người về khoa học, về những cái tưởng chừng như cố định vĩnh cửu không bao giờ thay đổi như không gian và thời gian, khối lượng vật chất v.v…
Riêng tôi, có thể bầu chọn Einstein là nhà khoa học vĩ đại nhất thế kỷ 20, nhưng không vội bầu chọn ông là nhà khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại, vì có một nhân vật lịch sử xứng đáng hơn cho danh hiệu đó, người đó chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Siddhārtha Gautama) người sáng lập ra Phật giáo, sinh ra tại Ca Tì La Vệ (zh. 迦毘羅衛, sa. Kapilavastu thuộc nước Nepal ngày nay.
Nhiều người sẽ ngạc nhiên, vì Đức Phật đâu có phải là nhà khoa học, ngoài ra Phật giáo cũng không có kiến lập chân lý, vậy thì lấy gì để so sánh, đối chiếu với các lý thuyết của Einstein ? Thật vậy, trước lúc nhập diệt, Phật đã phủ nhận toàn bộ lời giảng dạy của mình, nói rằng : “Trong suốt 49 năm qua, ta chưa hề nói một chữ nào” . Như vậy đem Đức Phật so sánh với Einstein thì thật là lố bịch. Tuy nhiên trong thế giới vô minh, tương đối, Phật đã giảng rất nhiều bộ kinh, nay tôi lấy những kinh điển có ý nghĩa như chiếc bè tạm bợ đó, để thử đối chiếu một lần cho minh bạch về mặt khoa học của hai nhân vật lịch sử vĩ đại đó của nhân loại, tôi nghĩ rằng bạn đọc có thể rút ra được nhiều điều thú vị, bổ ích cho sự hiểu biết của mình về thế giới.
1. Hiểu thế nào về thế giới ?
Với Thuyết tương đối đặc biệt, Einstein nêu ra rằng không gian, thời gian, khối lượng vật chất không bất biến như trong lý thuyết của Newton. Ông khám phá rằng thời gian là chiều kích thứ tư không thể tách rời của không gian, do đó không gian và thời gian nên được gọi chung là thời- không (Space-time) là một thực thể liên tục (continuum) không gián đoạn. Ông còn khám phá rằng ánh sáng là vận tốc cao nhất của vật chất trong chân không và vận dụng nó trong công thức giản dị nhưng nổi tiếng nhất thế giới, nêu ra tính chất tương đương giữa vật chất và năng lượng :
E=MC2 (E là năng lượng, M là khối lượng vật chất, C là vận tốc ánh sáng)
Thuyết tương đối được cho là một lý thuyết cao siêu có rất ít người hiểu được, nhưng với thuyết tương đối Einstein vẫn chưa thực sự hiểu rõ bản chất của thời-không, của khối lượng vật chất. Vì vậy khi gặp phải hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement) ông không hiểu được. Einstein sinh thời đã không hiểu được, không biết tại sao một hạt photon có thể xuất hiện đồng thời ở hai hoặc nhiều vị trí khác nhau, và khi hạt ở vị trí này bị tác động thì lập tức hạt ở các vị trí kia cũng bị tác động y hệt, tức thời, bất kể khoảng cách là bao xa, ông gọi đó là tác động ma quái từ xa (spooky action at a distance). Nếu cho rằng tín hiệu được truyền đi, thì vận tốc phải gấp hàng triệu lần tốc độ ánh sáng, điều đó trái với định đề của chính Einstein nêu ra rằng ánh sáng là tốc độ cao nhất của thế giới vật chất, không có vật gì truyền đi nhanh hơn ánh sáng, ánh sáng truyền trong chân không là một hằng số bằng (qui tròn) 300.000km/giây, không có vận tốc đầu, bởi vì ánh sáng không có khối lượng nên cũng không có quán tính (nói nôm na là nó không có trớn). Gần đây, có người khám phá ra rằng hạt neutrino có vận tốc nhanh hơn ánh sáng (306.000 km/giây) Khám phá này nếu được công nhận, thì chỉ ra rằng Einstein có chút sai sót, nhưng cũng chưa đi đủ xa để làm thay đổi nhận thức, chỉ gợi mở ý tưởng rằng con người có thể đi ngược thời gian để thấy lại quá khứ (nếu đi với vận tốc của hạt neutrino 306.000km/giây, trong khi ánh sáng đi với vận tốc 299.792,5 km/giây, như vậy có thể bắt kịp ánh sáng và thấy lại quá khứ)
Vậy Thích Ca có hiểu hiện tượng rối lượng tử không ? Thời Đức Phật chưa ai biết có hiện tượng này, nhưng qua những lời giảng của kinh điển, chúng ta có thể khẳng định Thích Ca biết và có đáp án rõ ràng cho hiện tượng này. Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật nhiều lần phóng hào quang hiển thị cho tứ chúng (tăng, ni, nam nữ cư sĩ) tham dự, thấy vô lượng vô biên thế giới (biểu thị không gian) từ quá khứ cho tới vị lai (biểu thị thời gian) và hằng hà sa chúng sinh không thể đếm hết của mười phương thế giới (biểu thị số lượng). Phật có đầy đủ thần thông (lục thông). A-tì-đạt-ma-câu-xá luận zh. 阿毗達磨俱舍論, sa. abhidharmakośa-śāstra, thường được gọi tắt là Câu-xá luận) có kể rõ lục thông là :
Lục thông, 六通 , tiếng Phạn ṣaḍ abhijñāḥ: Sáu phép thần thông, biểu hiện năng lực tâm thức bát nhã của chư Phật và Bồ tát.
- Thân như ý thông, Phạn (sa) ṛiddhi viṣaga-jñānaṃ, còn gọi là Thần túc thông: biến hiện tuỳ theo ý muốn, thân có thể bay lên trời, đi trên biển, chui vào trong núi… tất cả mọi động tác đều tuỳ theo ý muốn, không hề chướng ngại.
- Thiên nhãn thông, sa. divyaṃ-cakṣuḥ-jñānaṃ: nhìn thấy tất cả mọi hình sắc ở gần hay ở xa trong cả thế gian, nhìn thấy mọi hình tướng khổ vui của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
- Thiên nhĩ thông, sa. divyaṃ-śrotraṃ-jñānaṃ: nghe và hiểu hết mọi âm thanh trong thế gian, nghe và hiểu hết mọi ngôn ngữ của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi.
- Tha tâm thông, sa. paracitta-jñānaṃ: biết hết tất cả mọi ý nghĩ trong tâm của chúng sinh trong lục đạo.
- Túc mệnh thông, sa. purvanivasānusmṛiti-jñānaṃ, còn gọi là Túc mệnh minh: biết được kiếp trước của chính bản thân mình và của chúng sinh trong lục đạo, từ một đời, hai đời cho đến trăm ngàn vạn đời trước đều biết rõ, nhớ rõ sinh ra ở đâu, cha mẹ là ai, tên gì, làm gì…
- Lậu tận thông , sa. āsravakṣaya-jñānaṃ: lậu tức là kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi. Lậu tận thông là dứt trừ toàn bộ kiến hoặc và tư hoặc trong ba cõi, không còn sinh tử luân hồi trong ba cõi, được giải thoát hoàn toàn.
Nhờ có thần thông, nên mặc dù không có máy móc thiết bị gì cả, Phật nhìn thấu suốt cả Tam giới từ những vi trần cực kỳ nhỏ như photon, neutrino, các hạt cơ bản hạ nguyên tử (subatomic particles) như quark, electron đến các thiên thể vũ trụ thuộc tam thiên đại thiên thế giới, Phật biết chúng chỉ là hạt ảo không có thật và gọi chung là “hoa đốm trong hư không”. Kinh Pháp Hoa có nói rõ trong mười phương thế giới có vô số Phật Thích Ca đang đồng thời thuyết pháp. Điều đó chứng tỏ Phật biết hiện tượng rối lượng tử, tức hiện tượng một hạt photon có thể xuất hiện đồng thời ở nhiều vị trí khác nhau. Phật còn biết chính vì không gian, thời gian, số lượng là không có thật, các đại lượng đó chỉ hiện hũu trong tâm thức, nên một photon tại vị trí này bị tác động thì lập tức photon ở vị trí kia bị tác động y hệt, không mất chút thời gian nào vì không có việc truyền tín hiệu qua không gian.
Einstein nói “tác động ma quái từ xa” vì chưa hiểu thời-không và số lượng là không có thật. Có điều gì chứng tỏ Phật biết thời-không và số lượng không có thật ? Số lượng là số đếm của vạn vật, của hình tướng vật chất. Không một hình tướng nào là có thật, vật chất là không có thực thể, điều này Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh nói rất rõ :
(Này Xá Lợi Phất, các pháp đều là không có thật, không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm. Vì trong cái không, không có vật chất; không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt tai mũi lưỡi thân ý; không có sắc thanh hương vị xúc pháp; không có cảnh giới của cái thấy, cho đến không có cảnh giới của ý thức. Không có vô minh, cũng không có hết vô minh, cho đến không có già chết, cũng không có hết già chết. Không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo, không có Trí, cũng không có Đắc. Vì không có Sở Đắc, Bồ Tát dựa vào Trí Bát Nhã, Tâm không dính mắc, vì không dính mắc, không có sợ hãi, xa rời điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn).
2. Lý thuyết Trường Thống Nhất
Einstein dành 30 năm cuối của cuộc đời mình để nghiên cứu về một lý thuyết có thể giải thích được tất cả (Theory Of Everything- TOE) mà ông gọi tên là Lý thuyết Trường Thống Nhất (Theory of Unified Field), ông muốn thống nhất thuyết tương đối và cơ học lượng tử nhưng cuối cùng thất bại, ông qua đời năm 1955 mà không giải quyết được vấn đề. Thích Ca mặc dù sống trước thời đại của Einstein đến hơn 2500 năm, nhưng đã tiên đoán thất bại của Einstein và những người cùng chí hướng với ông, rằng không thể có TOE. Đức Phật đã cho một ví dụ bằng câu chuyện người mù sờ voi, ghi trong Niết Bàn Kinh 涅 槃 经
“有王告大臣,汝牵一象来示盲者时,众盲各以手触。大王唤众盲问之:“汝见象类何物?触其牙者言:象形如萝菔根;触其耳者言如 萁;触其脚者言如臼;触其脊者言如床;触其腹者言如瓮;触其尾者言如绳。……王喻如来正偏知,臣喻方等涅槃经,又象喻佛性,盲者喻一切众生无明也。”
(Có một vị vua nói với đại thần, ngươi hãy dẫn một con voi đến cho bọn mù xem. Những người mù dùng tay để sờ. Vị đại vương kêu bọn mù lại hỏi : “Các ngươi thấy voi giống như vật gì ? Người sờ cái ngà nói : voi giống như cái củ cải. Người sờ lỗ tai nói giống nhánh lá ki. Người sờ chân voi nói giống như cái cối. Người sờ lưng voi nói giống như cái giường. Người sờ bụng voi nói giống như cái lu. Người sờ đuôi voi nói giống như sợi dây thừng… Vua tượng trưng cái biết toàn thể của Như Lai (chánh biến tri 正偏知 ) Đại thần tượng trưng Kinh Phương Đẳng Niết Bàn. Con voi tượng trưng cho Phật tính. Những người mù tượng trưng cho tất cả chúng sinh vô minh.)
La bạc căn 萝菔根 (củ cải) Ki 萁 (lá ki) Cữu 臼 (cái cối)
Người mù không thể biết được cái toàn thể, mà chỉ biết được phần mớ nào đó thôi. Người mù là ai ? Là nhà chính trị, nhà triết học, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, văn nghệ sĩ và cả bàn dân thiên hạ. Nói chung là tất cả chúng sinh, với cái biết của bộ não, họ không bao giờ có thể đạt tới cái biết toàn thể.
Đức Phật kể câu chuyện người mù sờ voi để biểu thị ý tưởng rằng trí óc duy lý của con người là hữu hạn, nó không thể biết được cái toàn thể vì cái hiểu biết của nó dựa trên cơ sở vô minh. Triết học và khoa học của loài người xây dựng trên nền tảng vô minh, không biết rằng bản chất của thế giới là không, không có nghĩa lý gì cả, nếu đi đến hiểu biết tận cùng thì sẽ gặp phải mâu thuẫn, phi logic, lý thuyết trở nên phi lý không thể hiểu được, không thể chấp nhận được.
Điều này đã được nhà toán học Kurt Gödel phát biểu và chứng minh thành “Định lý bất toàn” công bố năm 1931. Định lý này được phát biểu thành 2 phần :
Định lý 1 : Nếu một lý thuyết dựa trên một hệ tiên đề phi mâu thuẫn thì trong lý thuyết ấy luôn luôn tồn tại những mệnh đề không thể chứng minh cũng không thể bác bỏ.
Định lý 2 : Không tồn tại bất cứ một quy trình suy diễn nào cho phép chứng minh tính phi mâu thuẫn của một hệ tiên đề.
Ý nghĩa triết học của Định lý Bất Toàn (Theorem of Incompleteness) là luôn luôn có mâu thuẫn trong bất cứ hệ thống lý thuyết duy lý nào, Vật chất thì không có thực thể; cái Không không có gì cả, không có nghĩa lý gì, thì lại có thể tạo ra vũ trụ vạn vật; quark, electron chỉ là những hạt ảo không có thật, nhưng lại có thể tạo ra thế giới thiên hình vạn trạng, trong đó có con người thông minh, biết tư duy trừu tượng, biết sáng tạo ra đủ thứ vật dụng máy móc thiết bị, nhưng không thể biết được cái toàn thể. Các cặp phạm trù mâu thuẫn đều chỉ là một nhưng lại không phải là một.
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh cũng nói rõ “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc; Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc”
Lý trí của chúng ta biết nhà cửa, xe cộ, thân ngũ uẩn của mình chỉ là huyễn ảo không có thật, nhưng hàng ngày ta vẫn phải ăn uống, mặc, ở, vẫn phải cần tới nhà cửa, xe cộ. Không thể có lý thuyết nào thống nhất được các mâu thuẫn đó cả, trí óc là bất lực. Einstein bó tay. Nhưng Thích Ca thì không, bộ não không thể giải quyết được vấn đề, nhưng không dùng bộ não thì lại giải quyết được, kết quả không thể tưởng tượng nổi. Sinh Tử là qui luật tự nhiên, ai cũng nghĩ thế, không ai thoát được, nhưng Thích Ca thân chứng được là không có Sinh Tử và thoát khỏi Luân Hồi. Thích Ca không đi tìm TOE vì biết TOE cũng ảo tưởng như hư không vô sở hữu, nhưng vì muốn cứu khổ cho chúng sinh nên Thích Ca bày ra phương tiện gọi là Tứ Đế trong đó nói Khổ, Tập, Diệt, Đạo để từ từ dẫn dắt chúng sinh mê muội đi dần tới giác ngộ. Một phương tiện khác là Thập Nhị Nhân Duyên để giải rõ nguồn gốc của vạn pháp, của chúng sinh. Các thuyết lý đó và rất nhiều kinh điển khác đều chỉ là phương tiện tạm thời. Đến Bát Nhã Tâm Kinh thì Thích Ca nói rõ, thật ra không có gì cả, tất cả chỉ là tâm thức biến hiện, giống như toàn bộ hình ảnh, âm thanh, chữ viết, video trên màn hình đều là ảo, nhưng chúng ta thấy là rất thật, dù sao cũng còn biết đó là ảo. Đến cuộc sống đời thường thì tính chất ảo hóa cao cấp hơn gấp bội, vì ngoài thấy, nghe, chúng ta còn sờ mó được, ngửi nếm được, có sự tiêu hóa, tăng trưởng, chuyển đổi hình thái, khiến cho chúng sinh không còn biết đó là ảo nữa, chỉ có bậc giác ngộ, kiến tánh thành Phật mới ngộ ra tất cả chỉ là ảo hóa, là nằm mơ giữa ban ngày. Không gian, thời gian, số lượng, người, vật đều không có thật. Chính vì vậy trong câu chuyện người mù sờ voi, Phật nói thẳng thừng bọn người mù là thí dụ cho tất cả chúng sinh vô minh (không loại trừ các nhà khoa học chuyên dùng trí óc để phân tích, tổng hợp, nhưng không bao giờ biết được hết cái toàn thể).
Các nhà khoa học mơ tưởng đi tới Sao Hỏa, là việc hết sức khó khăn. Nhưng Thích Ca chỉ một niệm là có thể đến bất cứ đâu trong Tam giới (Tam giới còn rộng lớn hơn vũ trụ vì bao gồm cả Sắc giới và Vô Sắc giới, trong khi vũ trụ chỉ là một phần nhỏ của Dục giới, phần thấy được của Dục giới mà thôi). Vì vậy Thích Ca còn có biệt danh là Như Lai. Ý nghĩa của Như Lai là “Tùng vô sở khứ, diệc vô sở lai cố danh Như Lai” (chẳng từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu gọi là Như Lai - Kinh Kim Cang ) Đó là chánh biến tri (hiện hữu khắp không gian thời gian, biết chính xác khắp mọi nơi)
Đi mà không đi vì pháp thân của Thích Ca có mặt khắp không gian thời gian, hay nói cách khác Tam giới không có thật nên đi với không đi cũng chẳng khác nhau. Đây không phải là nói suông mà hiện nay chúng ta có thể thực hiện một phần, Chẳng hạn khi đưa một bài viết lên mạng thì nó vốn là một vật ảo, có mặt ở khắp thế giới, bất cứ chỗ nào, bất cứ giờ nào, nếu hội đủ nhân duyên thì có thể thấy nó. Bây giờ việc gặp gỡ với bạn bè, người thân, dù họ ở bất cứ phương trời nào trên thế giới là rất dễ dàng, vì tiếng nói, hình ảnh của ta là những vật ảo, có thể xuất hiện đồng thời bất cứ nơi đâu trên quả địa cầu nhờ những công cụ như Skype hoặc Yahoo Messenger hay Windows Live. Thân ngũ uẩn của ta cũng là một vật ảo nhưng ở một trình độ cao cấp hơn, chỉ có những người có thần thông hay công năng đặc dị mới thực hiện được thân như ý thông.
3. Làm sao xây dựng hòa bình và hạnh phúc cho thế giới ?
Hầu hết chúng ta đều mong mỏi thế giới hòa bình, ấm no và hạnh phúc nhưng không có cách nào thực hiện được. Thế giới luôn luôn bất ổn, thiên tai dồn dập, bạo lực khắp nơi. Các cường quốc luôn luôn ỷ mạnh hiếp yếu, muốn tạo lập trật tự thế giới theo ý riêng của mình. Áp bức, bất công, tham nhũng, cưỡng bức luôn luôn xuất hiện, chỉ khác là có nơi nhiều nơi ít mà thôi. Tại sao có tình hình như thế ?
Trước hết nói về thiên tai. Khoa học với khả năng có hạn không thể nào khắc phục được thiên tai. Động đất, sóng thần, cuồng phong, mưa bão, núi lửa. Tất cả các thiên tai đó đều vượt quá khả năng của khoa học. Phật pháp nói : “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Liệu con người có thể rút ra một vài nhận thức và hành xử tốt hơn trong cuộc đời dựa vào Phật giáo ? Thế giới là do tâm tạo, tâm thức con người với những tập quán xấu như hung bạo, hiếu chiến, giết chóc tất nhiên là có ảnh hưởng tới hòa bình thế giới, ai cũng thấy. Nhưng ít ai hiểu rằng thiên tai cũng là do tâm tạo. Không có cái gì tự nhiên có. Thế giới vật chất, thái dương hệ, mặt trời, hành tinh đều là cấu trúc ảo, vì vậy mới xảy ra khủng hoảng Vật lý học mà các nhà khoa học hàng đầu thế giới đã cảm thấy, khi môn cơ học lượng tử phát triển, rằng vật chất không có thực thể, như Niels Bohr (1885-1962, nhà vật lý người Đan Mạch, giải Nobel Vật lý 1922), Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính), Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963), Heisenberg, (1901-1976 nhà vật lý lý thuyết người Đức, người phát minh ra nguyên lý bất định), Stephen Hawking (nhà vật lý người Anh, mang chức danh Giáo sư Lucasian tức giáo sư Toán học của Đại học Cambridge), Thomas Samuel Kuhn (1922-1996, nhà vật lý Mỹ, tác giả sách Cấu Trúc Các Cuộc Cách mạng Khoa học- Structure of Scientific Revolutions)…, Phật giáo gọi cấu trúc ảo của vật chất là vô thủy vô minh, Thiền gọi là thoại đầu. Tâm là lực tổng hợp của 4 lực cơ bản của thế giới vật chất : Lực hấp dẫn (force de gravité, gravitation) là lực hút giữa vật chất với nhau, có tác dụng ở mặt vĩ mô. Lực điện từ (force électromagnétique, electromagnetism) tạo ra từ trường, trong đó điện tích cùng dấu thì đẩy nhau, khác dấu thì hút nhau. Lực tương tác mạnh (force interactive forte, the strong interaction) là lực liên kết các hạt quark tạo ra hạt proton và hạt neutron, tạo ra sự vững bền của hạt nhân nguyên tử và giữ cho electron chuyển động theo quỹ đạo nhất định. Lực tương tác yếu (force interactive faible, the weak interaction) tạo ra hiện tượng phóng xạ của các nguyên tố nặng (như uranium) tức là giải phóng một số proton và neutron khiến nguyên tử dần dần bị phân rã. Lực điện từ và lực tương tác yếu, từ năm 1983 khi khám phá hạt tương tác boson W và boson Z thì có thể gom thành một lực chung gọi là lực tương tác điện yếu (interaction of weak electromagnetic fields). Vì vật chất là cấu trúc ảo nên Tâm lực có thể tác động để làm thay đổi. Các bậc giác ngộ có thần thông, có thể làm được điều đó. Chẳng hạn Huệ Năng, Hám Sơn, Đơn Điền đã làm thay đổi cấu trúc cơ thể của mình khiến nó trở nên bất hoại mà không cần có sự can thiệp từ bên ngoài, không cần ướp xác gì cả. Ngay cả những người chưa giác ngộ nhưng tâm lực đủ mạnh như Trương Bảo Thắng, Hầu Hi Quý cũng làm được những việc thần kỳ như đi xuyên qua tường, di chuyển cố thể vật chất như viên thuốc đi xuyên qua vỏ chai, tiền giấy đi xuyên qua vách bê tông kho bạc của ngân hàng…Khi Phật giáo nói “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” chúng ta phải hiểu rằng Tâm chính là lực tổng hợp của 4 lực cơ bản của vật chất, Tâm là nguồn năng lượng vô hạn. Thích Ca đã phát biểu điều đó từ rất lâu mà Einstein và nhiều nhà khoa học hiện nay vẫn chưa hiểu.
Vũ trụ cũng chỉ là cấu trúc ảo, là nằm mơ giữa ban ngày, vũ trụ là một trường thông tin mà tâm thức có thể tác động, với dữ liệu khổng lồ vô hạn lấy từ a-lại-da thức. Loài người có cùng một cộng nghiệp nên họ cùng thấy một vũ trụ giống nhau. Các loài khác với cộng nghiệp khác, chúng thấy vũ trụ không giống như loài người thấy. Khi tâm lực đủ mạnh thì có khả năng vận dụng, tức có lục thông, có thể dời núi lấp biển hay tạo ra cả một thế giới khác, chẳng hạn Đức Phật A Di Đà đã tạo ra thế giới tây phương cực lạc để tiếp dẫn những người tha thiết muốn đến đó, nơi đó đất đai bằng phẳng, không có núi cao vực sâu, cư dân hóa sanh chứ không phải thai sanh, cũng không phải cực nhọc suốt ngày lo kiếm ăn như ở trần gian. Chúng ta có thể cho rằng đó là một thế giới ảo tưởng không có thật. Đúng thế, nhưng nên biết rằng nó cũng bình đẳng như trần gian, nghĩa là cõi thế gian cũng là ảo tưởng tương tự như vậy và có nhiều ác trược hơn như thiên tai, bệnh tật, chiến tranh mà thế giới kia không có. Thiên tai là sự báo động rằng nghiệp xấu, nghiệp ác đang hiện hành, là quả báo của bất thiện nghiệp trong quá khứ. Tại sao có luật nhân quả ? Luật nhân quả trong nghiệp chướng cũng giống như lực quán tính trong vật lý học, điều đó là hoàn toàn tương đồng. Khi ta tạo một lực thì xuất hiện một phản lực có cường độ tương đương nhưng có chiều nghịch lại. Đó chính là nguyên lý của động cơ phản lực. Trong thế giới vô hình, nghiệp lực cũng tác động theo đúng nguyên lý của lực quán tính trong thế giới hữu hình. Khi ta tạo một nghiệp ác hoặc nghiệp thiện lên người khác hoặc vật khác thì xuất hiện một phản nghiệp tác động lại chính mình mà ta gọi là luật nhân quả. Có một nguyên lý bao trùm vũ trụ vạn vật, đó là nguyên lý đối xứng. Khi có hạt electron thì cũng có hạt positron đối xứng với nó, khi có vật chất thấy được thì cũng có vật chất tối không thấy được. Nguyên lý đối xứng tạo ra cặp phạm trù mâu thuẫn trong bất cứ lĩnh vực nào của thế giới dù là hữu hình hay vô hình.
Thiên tai có nguồn gốc rất sâu xa, không phải thô thiển như các nhà khoa học giải thích. Nên khi thấy hai ông tăng cãi nhau về lá phướn bị gió động hay tự lay động, Huệ Năng bảo : “Không phải gió động, cũng không phải phướn động, mà do tâm các ông động” Lời nói đó có ý nghĩa rất sâu xa.
Một cá nhân khó có thể đủ sức làm thay đổi cộng nghiệp của cả một cộng đồng hàng trăm triệu người, nhưng hiểu rõ thì không còn than trời trách đất hay than thân trách phận mà có thể bình tâm an nhiên thọ nghiệp, biết nghiệp cũng chỉ là giả tạm, lòng không còn sợ hãi, như vậy cũng đủ bình an.
Giải quyết được thiên tai thì cũng sẽ giải quyết được tất cả mọi họa hoạn theo cùng một cách thế như vậy. Thích Ca dạy rằng hòa bình và hạnh phúc là do ở mình, là tâm trạng, tâm thái chứ không phải do người khác hay vật khác quyết định, do đó Phật giáo dạy nhẫn nhục và thường không tán thành các biện pháp bạo lực. Ta thấy trong lịch sử khi Phật giáo bị người Hồi giáo tàn phá, giết hại, càn quét khỏi quê hương Ấn Độ, người Phật giáo cũng không trả thù, không cần trả thù, bởi vì gieo gió sẽ gặt bão, luật nhân quả sẽ biểu hiện, chỉ sợ người Hồi giáo không tránh khỏi quả báo.
Giáo lý của Phật giáo tự nó đã có sức đóng góp cho hòa bình và hạnh phúc của nhân loại, trong khi khoa học tuy đem lại nhiều ích lợi, tiện nghi vật chất, cơm ăn, áo mặc, cái đó không thể phủ nhận, nhưng đồng thời cũng đem lại nhiều đau thương chết chóc như chất độc hóa học, chất độc màu da cam, các loại vũ khí hủy diệt như bom nguyên tử, hay vũ khí thông thường như mìn, bom đạn, hàng ngày giết hại không ít người. Einstein ân hận không nguôi vì ông đã lỡ kí tên trong bức thư gởi Tổng thống Mỹ Roosvelt đề nghị chế tạo bom nguyên tử để chống phát xít, mặc dù sau đó ông không có tham gia chương trình, và khi biết quả bom đã được chế tạo, ông đã gởi bức thư thứ hai cho Tổng thống Truman, mới lên thay Roosvelt vì ông này qua đời, đề nghị không sử dụng bom nguyên tử, nhưng đã quá muộn, hai quả bom nguyên tử đã rơi xuống Hiroshima và Nagasaki gây thảm họa cho dân Nhật.
Tóm lại, chỉ xét riêng về phương diện thuần túy khoa học, chưa cần xét tới sự nghiệp đối với nhân loại, Einstein cũng không sánh kịp Thích Ca. Einstein chỉ hiểu thế giới trên nền tảng vô minh cục bộ, còn Thích Ca ngộ Tâm bất nhị chính là vũ trụ vạn vật. Thích Ca thoát khỏi sinh tử luân hồi, xứng danh Như Lai, vô lượng quang, vô lượng thọ (khắp không gian thời gian) vô thủy vô chung. Trong khi Einstein loay hoay không giải quyết được lý thuyết trường thống nhất. Vì vậy nên tôi chọn Thích Ca là nhà khoa học vĩ đại nhất mọi thời đại.
Truyền Bình
Theo : Đạo Phật Ngày Nay
Subscribe to:
Posts (Atom)


